Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người đã để
lại cho Đảng, nhân dân, dân tộc ta nhiều di sản tư tưởng, văn hóa có ý nghĩa giá
trị nhân văn sâu sắc.
Nhân dịp kỷ niệm 120 năm Ngày sinh nhật Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 -
19/5/2010) và 20 năm Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) công
nhận Người là "Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất Việt Nam (1990
- 2010), Vietnam+
xin trân trọng giới thiệu tới bạn đọc một số bài viết trong cuốn Kỷ yếu
của Hội thảo khoa học quốc tế “Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày
nay” diễn ra trong hai ngày 12-13/5, tại Hà Nội.
Dưới đây, xin trích đăng bài viết của bà Hà Thị Khiết, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Dân vận Trung ương:
Một trong những di sản quý mà Hồ Chủ tịch đã để lại cho nhân dân Việt Nam chính là tư tưởng của Người về bình đẳng dân tộc. Tư tưởng này đã đặt
nền móng cho việc củng cố, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Bình đẳng dân tộc trong quan niệm của Hồ Chí Minh khác xa bình đẳng dân tộc
của giai cấp tư sản. Hồ Chí Minh cho rằng, bình đẳng dân tộc không chỉ cụ thể
hóa về mặt pháp lý, mà quan trọng hơn là phải được thực hiện trên thực tế. Và
chính Người đã thực hiện điều đó.
Ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính
phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã khẳng định, các dân tộc trong cộng đồng các dân
tộc Việt Nam đều bình đẳng và Chính phủ sẽ hết sức giúp đỡ các dân tộc thiểu số
về mọi mặt.
Trong kháng chiến chống Pháp, Đảng ta tiếp tục đề ra những chính sách nhằm
thực hiện bình đẳng dân tộc. Tháng 8-1952, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết về dân
tộc. Tiếp đó, tháng 6-1953, Chính phủ đã ban hành chính sách dân tộc của Nhà
nước Việt Nam với tinh thần cơ bản là đoàn kết các dân tộc trên nguyên tắc bình
đẳng, tương trợ lẫn nhau. Hiến pháp của nước ta cũng khẳng định quyền bình đẳng
của các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam và được cụ thể hoá bằng chính
sách dân tộc qua các thời kỳ của cách mạng.
Bình đẳng dân tộc và độc lập dân tộc có mối quan hệ chặt chẽ và có sự tác
động qua lại lẫn nhau. Trong đó, độc lập dân tộc là nền tảng để thực hiện quyền
bình đẳng giữa các dân tộc.
Thực tiễn lịch sử Việt Nam đã chứng minh điều đó. Khi thực dân Pháp, đế quốc
Mỹ xâm lược nước ta, chúng đã thi hành những chính sách đi ngược lại với nguyện
vọng và quyền của các dân tộc ở Việt Nam. Đó là chính sách “chia để trị”, “dùng
người Việt đánh người Việt”, dùng người dân tộc này đánh người dân tộc khác,
nhằm chia rẽ các dân tộc, phục vụ cho mưu đồ thống trị của chúng.
Vì vậy, có giành được độc lập dân tộc, mới có điều kiện để chăm lo cho đồng
bào các dân tộc về kinh tế, văn hóa, giáo dục và y tế. Sau khi Cách mạng Tháng
Tám thành công, nhất là sau khi miền Bắc được giải phóng, Đảng và Chính phủ đã
có những kế hoạch và hành động cụ thể để thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân
tộc, từng bước mang lại cuộc sống mới cho đồng bào.
Mặt khác, thực hiện bình đẳng dân tộc cũng là nhân tố quyết định để củng cố
và tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc. Khi một dân tộc này chà đạp, ép buộc
các dân tộc khác thì sớm hay muộn cũng tạo nên sự chia rẽ, ly khai dân tộc. Hồ
Chí Minh đã sớm nhận thấy điều đó khi cho rằng để xây dựng khối đại đoàn kết dân
tộc thì phải thực hiện bình đẳng dân tộc, đại đoàn kết dân tộc không những phải
dựa trên nền tảng của khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông
dân và tầng lớp trí thức, mà còn phải thực hiện đoàn kết các dân tộc.
Cơ sở của khối đại đoàn kết dân tộc là bình đẳng dân tộc, vì lợi ích của tất
cả các dân tộc trong một quốc gia. Khi các dân tộc được đối xử bình đẳng, cả về
nghĩa vụ và quyền lợi, sẽ tạo ra tiếng nói chung và tạo nên sự đồng thuận giữa
các dân tộc và ngược lại.
Vì thế, nếu không đảm bảo và không có những chính sách và hành động cụ thể để
thực hiện bình đẳng dân tộc, làm cho bình đẳng dân tộc ngày càng trở thành hiện
thực thì khối đại đoàn kết dân tộc sẽ bị lung lay, làm ảnh hưởng đến sự tập hợp
lực lượng của cách mạng.
Để thực hiện quyền bình đẳng dân tộc, cần phải có một xã hội mà ở đó quyền
bình dẳng giữa các dân tộc có điều kiện và cơ sở để thực hiện. Xã hội đó, không
thể khác là xã hội xã hội chủ nghĩa. Kết luận trên của Hồ Chí Minh được Người
rút ra trong quá trình khảo nghiệm các con đường cứu nước và trong quá trình
khảo sát các xã hội tư bản.
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định trong quan hệ giữa dân tộc đa số có trình độ
phát triển cao hơn với các dân tộc thiếu số có trình độ thấp hơn rất dễ nảy sinh
tư tưởng kỳ thị dân tộc, và thường có hai thái cực: một là người dân tộc lớn dễ
mắc bệnh kiêu ngạo, và hai là cán bộ địa phương, nhân dân địa phương lại dễ cho
mình là dân tộc nhỏ bé, tự ti, cái gì cũng cho là mình không làm được, rồi không
cố gắng.
Người cho rằng, cần phải khắc phục những tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp
hòi và tự ti dân tộc. Trong nhiều hội nghị, trong nhiều bài viết, bài nói, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã dùng những từ rất thân mật, ruột thịt để nói về tình đoàn
kết giữa các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, như “anh em một nhà”,
“giúp đỡ nhau cùng tiến bộ”... Người nhấn mạnh rằng, đồng bào miền xuôi với
trình độ văn hoá, khoa học, kỹ thuật phát triển hơn phải giúp đỡ đồng bào thiểu
số, để cùng tiến bộ.
Người cũng đã khẳng định nhiệm vụ của Trung ương, Chính phủ và cấp ủy đảng là
phải làm sao nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của đồng bào các dân tộc,
phải giúp đỡ đồng bào các dân tộc thiểu số về mọi mặt.
Việt Nam là một quốc gia thống nhất gồm 54 dân tộc chung sống, trong đó, dân
tộc Kinh chiếm đa số, còn lại 53 dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ 13,8% dân số cả nước. Cộng đồng các dân tộc Việt Nam được hình thành và phát triển cùng
với tiến trình lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước tạo nên một dân tộc
Việt Nam thống nhất.
Các dân tộc ở nước ta sinh sống gắn bó với nhau từ lâu đời, đã sớm có ý thức
đoàn kết, giúp nhau trong chinh phục thiên nhiên, chống giặc ngoại xâm và xây
dựng đất nước. Sự đoàn kết gắn bó giữa các cộng đồng dân tộc đã tạo nên một quốc
gia đa dân tộc bền vững, thống nhất.
Ngày nay, trước yêu cầu phát triển mới của đất nước, dưới sự lãnh đạo của
Đảng, các dân tộc tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp, tăng cường đoàn kết,
nỗ lực phấn đấu xây dựng nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ văn minh, vững bước tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Trong suốt quá trình cách mạng Việt Nam, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về
chính sách dân tộc là nhất quán, theo nguyên tắc: các dân tộc bình đẳng, đoàn
kết, tương trợ nhau cùng phát triển. Đây vừa là nguyên tắc, vừa là mục tiêu
chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta.
Bước vào thời kỳ đổi mới, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng dân tộc, chính sách dân
tộc của Đảng đã được thể hiện ở các nghị quyết của Đảng.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khoá IX về công tác dân tộc đã khẳng định
chính sách dân tộc trong giai đoạn hiện nay là: “Ưu tiên đầu tư phát triển kinh
tế - xã hội các vùng dân tộc và miền núi, trước hết, tập trung vào phát triển
giao thông và cơ sở hạ tầng, xoá đói, giảm nghèo; khai thác có hiệu quả tiềm
năng, thế mạnh của từng vùng, đi đôi với bảo vệ bền vững môi trường sinh thái,
phát huy nội lực, tinh thần tự lực, tự cường của đồng bào các dân tộc, đồng thời
tăng cường sự quan tâm hỗ trợ của Trung ương và sự giúp đỡ của các địa phương
trong cả nước.”
Nghị quyết Đại hội X của Đảng tiếp tục khẳng định: “Vấn đề dân tộc và đoàn
kết các dân tộc là vấn đề chiến lược, cơ bản, lâu dài của sự nghiệp cách mạng
nước ta. Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng
và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ....”
Để đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc và miền núi, nâng cao
dần mức sống của đồng bào các dân tộc, trong những năm qua và nhất là giai đoạn
hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương chính sách ưu tiên
đối với đồng bào dân tộc thiểu số một cách đồng bộ và toàn diện trên tất cả các
lĩnh vực đời sống xã hội.
Song song đó, Đảng và Nhà nước đã triển khai thực hiện nhiều chương trình, dự
án đầu tư phát triển trên địa bàn miền núi, vùng đồng bào dân tộc như: Chương
trình trồng mới 5 triệu ha rừng; Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã
đặc biệt khó khăn miền núi, vùng sâu, vùng xa. Trong số đó, Chương trình 135 -
giai đoạn 2, đang đầu tư cho 1.841 xã và 3.149 thôn, bản đặc biệt khó khăn với
tổng vốn đầu tư gần 13 nghìn tỷ đồng; quyết định số 134/2004 về chính sách hỗ
trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu
số và tập trung giúp đỡ 62 huyện khó khăn nhất; thực hiện sâu rộng Chương trình
xoá đói giảm nghèo và chăm lo các đối tượng thuộc diện chính sách xã hội, người
có công với cách mạng.
Nhờ vậy, cuộc sống của đồng bào các dân tộc vùng cao, vùng sâu, vùng xa từng
bước được cải thiện rõ rệt, quyền của các dân tộc thiểu số được bảo đảm đầy đủ
và toàn diện; đồng bào các dân tộc luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và sự
quản lý của Nhà nước, tích cực phát huy truyền thống cách mạng, yêu nước, tinh
thần đoàn kết để xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, ấm no, hạnh phúc, như Bác
Hồ hằng mong muốn./.
Hà Thị Khiết (Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Dân vận Trung ương)