Đồi núi ở Hà Giang. (Nguồn: Internet)
Theo thống kê từ ngành du lịch, từ năm 2010 đến hết năm 2011, đã có 32.000
lượt khách du lịch trong và ngoài nước đến với vùng cao nguyên đá Hà Giang.
Có thể coi đây là một sự gia tăng đột biến với ngành du lịch Hà Giang. Doanh
thu từ du lịch đạt đến con số trên 280 tỷ đồng, gần gấp 3 lần so với thời kỳ
2009-2010. Các điểm du lịch cộng đồng, sinh thái được ưu tiên phát triển thời
gian qua đang có đóng góp nhất định trong việc thu hút du khách đến với Hà
Giang, cũng như góp phần vào sự tăng trưởng doanh thu từ ngành du lịch, tạo công
ăn việc làm, tăng thu nhập cho hộ gia đình vùng cao đá còn nhiều vất vả, khó
khăn.
Hà Giang, nơi còn lưu giữ được những hoang sơ vốn có của thiên nhiên, nơi tập
trung nền văn hóa đa sắc tộc của gần nửa cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Lên
vùng cao phía Bắc, hiện trước mắt du khách là những con đường ngoằn nghèo ẩn
hiện trong mây và sương mù, là cả một rừng đá xám của vùng cao nguyên đá. Đỉnh
Mã Pì Lèng hùng vĩ trên con đường Hạnh Phúc vắt vẻo ở lưng chừng núi, nhìn xuống
dòng sông Nho Quế chỉ còn là một dải lụa màu hun hút dưới chân núi xa xăm.
Đi về phía Tây Hà Giang, nơi được gọi là vùng cao núi đất, du khách bắt gặp
những bản làng của người Tày, Nùng, Dao… với những nếp nhà sàn, nhà lá đơn sơ,
những chân ruộng bậc thang đẹp như trong mơ và tấm lòng rộng mở của người dân
các dân tộc thiểu số bản địa.
Hà Giang có 22 dân tộc anh em cùng chung sống, trong đó người Mông chiếm tới
trên 32%, người Tày trên 23%, người Dao trên 15%, người Kinh gần 13%, người Nùng
gần 10%... Mỗi dân tộc mang một đặc trưng văn hóa riêng thể hiện trong phong
tục, tập quán, lối sống, trang phục, phương thức sản xuất… Người ta dễ nhận ra
ngôi nhà sàn của người Tày; đồng thời cũng không khó để biết đó là những ngôi
nhà, bản làng người Mông với kiến trúc đặc trưng là những nếp nhà thấp, trình
tường (tường đất), khuôn viên được bao bọc bằng bức tường đá xếp…, nằm cheo leo
trên những sườn núi cao quanh năm đầy sương mù.
Tất cả đất trời, thiên nhiên, con người cùng những nét riêng biệt về văn hóa
của mỗi dân tộc tạo nên một bức tranh văn hóa đa sắc mầu của vùng cao nguyên đá
Đồng Văn -tiềm năng phát triển du lịch cộng đồng sinh thái đang chờ được thức
dậy. Hà Giang xác định, xây dựng và phát triển các điểm du lịch cộng đồng gắn
với những sản phẩm truyền thống được coi là một trong những chiến lược nhằm thu
hút khách du lịch. Mấy năm qua, người dân nhiều địa phương cũng đã thu lợi từ
các công việc như cung cấp dịch vụ nghỉ dưỡng, phục vụ du khách ăn uống với các
món ăn truyền thống, ẩm thực đặc sản của địa phương (gà đồi, lợn đen, rau núi,
rượu ngô…).
Tham gia làm du lịch cộng đồng, tính bình quân mỗi hộ có thu nhập từ 10-20
triệu đồng/năm (số tiền không nhỏ với mỗi hộ vùng cao); có hộ đạt hàng trăm
triệu đồng. Tuy nhiên, lực lượng người dân tham gia làm du lịch và lợi ích khai
thác từ du lịch cộng đồng cũng chưa nhiều, chưa là phổ biến. Để du lịch phát
triển trở thành một trong ba ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh (du lịch-dịch vụ,
kinh tế cửa khẩu và công nghiệp chế biến), những nhà hoạch định chính sách Hà
Giang chủ trương phát triển nhanh mô hình làng văn hóa du lịch cộng đồng nhằm
thu hút ngày càng nhiều du khách.
Trong mấy năm thực hiện chủ trương trên, trên địa bàn tỉnh hiện có tới 46
làng văn hóa du lịch cộng đồng đã và đang được triển khai, trong đó có 29 làng
đã chính thức ra mắt hoạt động. Từ năm 2012, với mong muốn bảo tồn và giữ gìn
bản sắc văn hóa dân tộc của địa phương, khai thác tối đa tiềm năng du lịch trên
địa bàn cũng như tạo công ăn việc làm và tăng thu nhập cho người dân, Hà Giang
đã quyết định xây dựng mô hình Làng văn hóa du lịch tiêu biểu gắn với xây dựng
nông thôn mới.
Theo đó, sẽ có 12 làng văn hóa du lịch tiêu biểu dự kiến được xây dựng. Mỗi
huyện có ít nhất một làng, riêng thành phố Hà Giang có hai làng theo những tiêu
chí của tỉnh đề ra. Việc xây dựng hàng loạt các làng văn hóa du lịch cộng đồng
và giờ lại thêm mô hình làng văn hóa du lịch tiêu biểu gắn với xây dựng nông
thôn mới đang dần bộc lộ những hạn chế, tính không khả thi với mục tiêu đề ra,
nhất là mục tiêu khai thác du lịch và bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc.
Thực tế, trong 29 làng văn hóa du lịch cộng đồng đã đang đưa vào khai thác
thì tới trên 80% số làng không có khách hoàn toàn. Mấy làng có khách đến thăm
thì cũng không nhiều về lượng người cũng như số lượt người đến. Đây cũng là dự
báo cho kết quả của 12 làng văn hóa du lịch tiêu biểu trong tương lai! Thực
trạng trên phản ánh năng lực làm du lịch của Hà Giang.
Thực tế, với các tỉnh có tiềm năng lớn và bề dày phát triển du lịch trong
vùng chưa có tỉnh nào xây dựng nhiều làng văn hóa du lịch cộng đồng như Hà
Giang. Vốn đầu tư ít, đầu tư dàn trải thì chắc chắn công trình sẽ không đạt yêu
cầu, hiệu quả khai thác kém, gây lãng phí. Mặt khác, phải chăng chủ trương phát
triển làng văn hóa du lịch cộng đồng cũng như làng văn hóa du lịch tiêu biểu thể
hiện tính duy ý chí, thiếu khoa học và thực tế; lồng ghép quá nhiều mục đích
trong một chương trình.
Trao đổi về vấn đề này với những người đang trực tiếp làm công tác phát triển
du lịch của tỉnh, chúng tôi cũng đã nhận được những chia sẻ chân thành và những
phân tích mang tính khoa học về thực trạng, giải pháp của vấn đề.
Trước hết, làng văn hóa du lịch muốn thu hút được du khách thì nó phải có sức
hấp dẫn tự thân của nó, gồm: vị trí địa lý (gần các trung tâm du llịch, điểm du
lịch tiêu biểu, nằm trên tuyến du lịch), tài nguyên du lịch. Vị trí địa lý của
làng văn hóa du lịch rất quan trọng, nếu nó không nằm trong thị trường du lịch,
trên tuyến du lịch thì rất khó thu hút khách. Không khách du lịch nào đi hàng
trăm kilômét để đến chỉ thăm một vài sản phẩm văn hóa truyền thống của một dân
tộc, một làng bản.
Bên cạnh đó, việc có quá nhiều làng văn hóa du lịch trên cùng một trục tuyến
điểm du lịch cũng gây sự nhàm chán, vô hình dung tự mình làm mất đi cái gọi là
đặc trưng văn hóa; du khách cảm thấy chỗ nào cũng giống nhau vì làng nào cũng
chỉ bày giới thiệu sản phẩm văn hóa của một vài tộc người.
Thứ hai là, việc chọn lựa xây các làng văn hóa du lịch cộng đồng hay văn hóa
du lịch tiêu biểu không đảm bảo được yếu tố cảnh quan, môi trường, sắc thái
riêng của mỗi tộc người sẽ trở thành phản tác dụng. Thực tế, nếu các nhà quản lý
có biết nhưng cũng khó làm được. Làm sao để có rừng, có núi đá, có những con
đường đi trong mây, có không gian vật chất như đường làng, ruộng bậc thang,
nương rẫy… như cuộc sống thực vốn có của đồng bào các dân tộc. Ngoài ra, sự
bêtông hóa ồ ạt từ đường đi lối lại đến chỗ ăn ngủ tại các làng được quy hoạch
và tân trang cũng làm mất đi bản sắc riêng của văn hóa bản làng đồng bào dân tộc
vốn luôn gần gũi với thiên nhiên.
Thứ ba là, các làng văn hóa du lịch không đảm bảo được tính nguyên bản của
các giá trị văn hóa. Khách du lịch, nhất là khách nước ngoài khi đến du lịch ở
một nơi nào đó là để hưởng thụ giá trị văn hóa độc đáo, khác biệt so với nơi họ
đang sinh sống. Họ muốn được trực tiếp nhìn thấy cuộc sống thật hàng ngày của
người dân, chiêm ngưỡng nét văn hóa trong sinh hoạt, lao động sản xuất của con
người, cảnh vật nơi họ đến.
Không ai đi du lịch lên Hà Giang với mục đích du
lịch mạo hiểm, du lịch văn hóa, du lịch sinh thái lại chỉ để xem các mô hình
dựng lại hay đóng giả ở các làng văn hóa cộng đồng hay văn hóa du lịch tiêu
biểu…. Nếu vậy khách du lịch thà đến Bảo tàng dân tộc học ở Hà Nội hay ở ngay
đất nước họ chắc dễ xem hơn./.
Công Hải (TTXVN)