Ảnh chỉ có tính minh họa. (Nguồn: Internet)
Cuộc khủng hoảng nợ công tại châu Âu đã kéo dài hơn hai năm và hiện vẫn đang
diễn biến phức tạp.
Khó khăn của Tây Ban Nha và Italy càng khiến cho những dự
báo về triển vọng kinh tế châu Âu trong năm nay trở nên ảm đạm hơn.
Phóng viên TTXVN đã có cuộc trao đổi với phó giáo sư, tiến
sỹ Nguyễn An
Hà, Viện trưởng Viện nghiên cứu châu Âu, về những diễn biến mới của cuộc khủng
hoảng, những tác động của nó tới nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào hoạt động xuất
khẩu và đầu tư như kinh tế Việt Nam.
- Thưa ông, tình hình nợ công tại Hy Lạp và Tây Ban Nha đang diễn
biến rất phức tạp, trong trường hợp Tây Ban Nha cũng phải xin cứu trợ chính thức
như Hy Lạp thì điều gì sẽ xảy ra?
Phó giáo sư, tiến sỹ Nguyễn An Hà: Như chúng ta đã biết, trong tháng Sáu, cả châu Âu và thế
giới "nín thở" theo dõi cuộc bầu cử tại Hy Lạp.
Cuối cùng thì Đảng dân chủ cánh
hữu của ông Antonis Samaras đã giành thắng lợi và Hy Lạp chấp nhận ở lại Liên
minh châu Âu (EU) và tiếp tục thực hiện các chính sách hà khắc là cắt lương hưu,
giảm việc làm và tăng thuế. Đổi lại, Hy Lạp đã nhận được 130 tỷ euro.
Song sang
tháng 7 thì tình hình ở các nước Nam Âu, đặc biệt là Tây Ban Nha, lại trở nên
trầm trọng hơn.
Thứ nhất, theo dự báo, trong năm 2012 kinh tế Tây Ban Nha có thể
tăng trưởng âm 1,7% GDP với món nợ công lên tới 800 tỷ euro.
Con số nợ công này
mặc dù không thực sự lớn nhưng vấn đề đáng lo ngại là tỷ lệ thất nghiệp của Tây
Ban Nha lại rất cao, lên tới 24,4% trong tháng Sáu. Trầm trọng hơn, trong số những
người thất nghiệp thì giới lao động trẻ chiếm tới 50%.
Gần đây, hàng loạt ngân
hàng Tây Ban Nha rơi vào tình trạng khủng hoảng, với mức nợ xấu trong tổng nợ
ngân hàng lên tới 9%, tương đương 150 tỷ euro.
Chính phủ Tây Ban Nha một mặt
phải thắt lưng buộc bụng, để thực hiện cam kết cắt giảm chi tiêu ngân sách hơn
50 tỷ euro, lại phải vay của Liên minh châu Âu (EU) một gói cứu trợ dành riêng
cho hệ thống ngân hàng trị giá 100 tỷ euro.
Bên cạnh đó, xếp hạng tín dụng của
Tây Ban Nha đã bị Standard & Poor’s hạ xuống mức BBB+, khiến các khoản vay của
chính phủ để trang trải nợ nần trở nên hết sức khó khăn.
Điều đó cho thấy, với
một hệ thống ngân hàng “ọp ẹp” như vậy thì việc quay trở lại mức tăng trưởng tốt
và đảm bảo giải quyết dứt điểm vấn đề nợ công trong trung hạn là một nhiệm vụ
rất khó khăn đối với Tây Ban Nha.
Trong trường hợp "xứ sở Bò tót" phải chính
thức xin một gói cứu trợ toàn diện thì khi đó Quỹ Bình ổn tài chính châu Âu
(EFSF) và Cơ chế bình ổn châu Âu (ESM) với tiềm lực tài chính có hạn sẽ càng gặp
nhiều khó khăn.
- Vấn đề nợ công tại Italy cũng có những dấu hiệu nguy hiểm. Liệu có phải
cuộc khủng hoảng nợ công tại châu Âu đang xấu hơn dự báo?
Phó giáo sư, tiến sỹ Nguyễn An Hà: Hiện nay nợ công tại Italy, nền kinh tế lớn thứ ba EU, ở
mức khoảng 123% GDP (gần 2.000 tỷ euro), lớn thứ hai trong Eurozone, sau Hy Lạp.
Bản thân Italy cũng đang vướng phải những vấn đề tương tự Tây Ban Nha. Hàng
chục ngân hàng của Italy mới đây liên tục bị hạ thấp trong xếp hạng tín nhiệm,
trong khi khả năng vay mượn của chính phủ cũng gặp nhiều khó khăn vì phải trả
lãi suất trái phiếu chính phủ cao.
Việc cắt giảm chi tiêu công và phúc lợi trong
nước cũng làm cho tình trạng căng thẳng xã hội trở nên gay gắt hơn.
Rõ ràng, với
một cơ chế chỉ trông vào tài trợ từ Quỹ bình ổn tài chính châu Âu thì không thể
đủ nguồn lực giúp các nước này thoát khỏi nợ nần. Sâu xa hơn, muốn giải quyết
vấn đề nợ công chỉ có cách phải thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, liên kết hội nhập
khu vực tốt hơn.
- Theo ông, khủng hoảng nợ công tại châu Âu đã tác động như thế nào tới hoạt
động đầu tư và xuất khẩu của Việt Nam?
Phó giáo sư, tiến sỹ Nguyễn An Hà: EU là đối tác thương mại quan trọng hàng đầu của Việt Nam. Kim ngạch thương mại song phương đã tăng từ mức chỉ khoảng 1,5 tỷ USD năm 1995
lên 20,5 tỷ USD năm 2011. Riêng trong năm 2011, xuất khẩu của Việt Nam sang EU
(với các sản phẩm thế mạnh là hàng tiêu dùng, nông sản, thủy sản) đạt thặng dư
hơn 8 tỷ USD.
Sang năm 2012, trong năm tháng đầu năm, một số ngành hàng như thủy
sản, dệt may, hoạt động xuất khẩu sang EU có bị sút giảm. Nguyên nhân là một số
nước Nam Âu cũng có ngành sản xuất dệt may, giày da và thủy sản khá mạnh, nên họ
cũng tìm cách áp dụng một số biện pháp như chống bán phá giá để bảo vệ ngành
công nghiệp trong nước.
Về đầu tư, EU cũng là đối tác quan trọng của Việt Nam
bao gồm đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) hay hình thức viện trợ phát triển
chính thức (ODA).
Do khủng hoảng, rõ ràng dòng đầu tư FDI có sụt giảm. Năm 2009,
tỷ lệ đầu tư FDI của châu Âu cho Việt Nam chiếm khoảng 18% tổng vốn FDI, sang
năm 2011 thì con số đó chỉ còn 11% và có xu hướng tiếp tục giảm trong năm nay.
Tuy nhiên, trao đổi thương mại song phương cũng có những điểm sáng mới, khi EU
và Việt Nam ký Hiệp định khung Đối tác và Hợp tác toàn diện (PCA) cuối tháng Sáu
vừa qua, không chỉ liên quan tới thương mại và đầu tư, mà còn liên quan tới một
loạt lĩnh vực khác như khoa học-công nghệ, nông nghiệp và năng lượng. Những
nội dung đó khi được triển khai sẽ có nhiều tiềm năng thu hút đầu tư trực tiếp
nước ngoài từ các doanh nghiệp EU.
Sau khủng hoảng, EU cũng điều chỉnh mạnh
chính sách hội nhập của mình sang khu vực châu Á-Thái Bình Dương và đây là
những cơ hội để Việt Nam thúc đẩy quan hệ thương mại và đầu tư với EU./.
Việt Khoa (TTXVN)