Chuyên viên kinh tế Xuân Đảng, Viện Chiến lược ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam cho rằng việc thay đổi chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam là linh hoạt, thận trọng.
Theo ông Đảng, những tháng đầu năm 2009, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã từng
bước nới lỏng chính sách tiền tệ để thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh và
chủ động hạn chế tác động của khủng hoảng tài chính, ngăn chặn nguy cơ suy giảm
kinh tế.
Tuy nhiên, cùng với đà tăng trưởng trở lại của kinh tế trong nước cũng như thế
giới, càng về những tháng cuối năm, diễn biến thị trường tài chính-tiền tệ càng
trở nên phức tạp, áp lực lạm phát trở lại đối với nền kinh tế ngày càng rõ nét.
Với mục tiêu duy trì sự ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, tăng trưởng
kinh tế bền vững trong năm 2010, chủ động đối phó với diễn biến phức tạp của thị
trường tài chính và kinh tế thế giới, Ngân hàng Nhà nước đã quyết định điều
chỉnh
lãi suất cơ bản tăng từ 7%/năm lên 8%/năm, tăng lãi suất tái cấp vốn tăng
từ 7%/năm lên 8%/năm, lãi suất chiết khấu tăng từ 5%/năm lên 6%/năm áp dụng từ
1/12/2009.
Bên cạnh đó, với mục tiêu điều hành tỷ giá trong mối quan hệ với lãi suất, chỉ
số giá tiêu dùng, diễn biến của cán cân thanh toán quốc tế phù hợp với tín hiệu
của thị trường, có sự điều tiết của Nhà nước, Ngân hàng Nhà nước công bố mức tỷ
giá bình quân liên ngân hàng áp dụng cho ngày 26/11/2009 là 17.961 (tăng 5,16%)
và áp dụng biên độ tỷ giá mới cho giao dịch mua bán giao ngay giữa USD và VND là
± 3% từ ngày 26/11/2009.
Ngân hàng Nhà nước cũng cam kết sẽ hỗ trợ mạnh mẽ trong việc bán ngoại tệ cho
các ngân hàng thương mại kèm nhiều biện pháp hỗ trợ khác nhằm bình ổn thị trường
ngoại hối.
Các tổ chức tín dụng có trạng thái ngoại tệ từ âm 5% trở xuống được Ngân hàng
Nhà nước cam kết bán ngoại tệ hỗ trợ nhằm đảm bảo hệ thống ngân hàng cung cấp đủ
ngoại tệ cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, đặc biệt ưu tiên những mặt hàng
nhập khẩu phục vụ sản xuất.
Những động thái này gây quan ngại cho một số nhà đầu tư trong nước. Họ cho rằng
đây là dấu hiệu của chính sách tiền tệ thắt chặt sẽ được thực thi trong năm
2010, do đó có thể ảnh hưởng hạn chế tốc độ tăng trưởng trở lại của nền kinh tế.
Tuy nhiên, nếu xét từ diễn biến thực tế trên thị trường thì việc thay đổi lãi
suất cơ bản và tỷ giá cuối tháng 11 thực hiện đồng bộ cùng các biện pháp bình ổn
tỷ giá và lãi suất thị trường là một giải pháp thận trọng cần thiết, xuất phát
từ một số nguyên nhân.
Thứ nhất, với việc thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng và thực hiện chương
trình kích thích kinh tế của Chính phủ làm cho mức tăng trưởng tín dụng tăng
cao. Vì vậy, việc tăng lãi suất cơ bản và điều chỉnh tỷ giá là việc làm cần
thiết để tác động vào mức tăng trưởng tín dụng, kiểm soát chặt chẽ quy mô và
chất lượng tín dụng, phù hợp với mục tiêu kinh tế vĩ mô theo Nghị quyết của Quốc
hội và chủ trương của Chính phủ, đồng thời tạo điều kiện cho các ngân hàng
thương mại huy động được vốn từ nền kinh tế và ngăn chặn ngay từ đầu trạng thái
lạm phát cao có thể xảy ra khi nền kinh tế phục hồi.
Thứ hai, khi tiến hành hỗ trợ lãi suất vay VND 4% trong chương trình hỗ trợ kinh
tế của Chính phủ đã đưa lãi suất vay VND thực tế của các doanh nghiệp và người
dân xuống 5-6%. Điều này khuyến khích các doanh nghiệp có nhu cầu ngoại tệ để
nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tiến hành vay vốn bằng VND để mua ngoại tệ của các
ngân hàng thương mại thay vì vay vốn bằng ngoại tệ.
Thậm chí nhiều doanh nghiệp đang có số dư vay vốn ngân hàng bằng ngoại tệ cũng
tìm mọi cách vay VND mua ngoại tệ để trả nợ trước hạn vốn vay ngoại tệ cho ngân
hàng.
Do đó, gây áp lực về ngoại tệ đối với các ngân hàng cũng như đẩy tỷ giá tự do có
xu hướng tăng lên, tạo sự chênh lệch lớn giữa tỷ giá giao dịch trong ngân hàng
và tỷ giá giao dịch ngoài thị trường tự do.
Thứ ba, trong 11 tháng năm 2009 tốc độ tăng trưởng tín dụng luôn tăng cao hơn
tốc độ huy động tiền gửi gây áp lực đến lãi suất của thị trường. Tính đến cuối
tháng 11 tín dụng đối với nền kinh tế tăng 36,86% trong khi huy động vốn chỉ
tăng 26,45% so với 31/12/2008. Do đó, việc nâng lãi suất cơ bản đã tạo ra sự ổn
định, đưa lãi suất thị trường trở lại theo quy luật cung-cầu, tránh sức ép, tiêu
cực cho hệ thống tài chính - ngân hàng và nền kinh tế.
Thứ tư, thực tế cho thấy lạm phát của Việt Nam trong ba năm 2007, 2008, 2009 là
trên 40%, trong khi lạm phát của Mỹ chỉ bằng khoảng 20% cùng kỳ, nhưng tỷ giá
chính thức USD/VND dường như thay đổi không đáng kể trong thời gian đó, khiến
VND bị định giá cao trong tương quan tỷ giá với USD. Như vậy, việc Ngân hàng Nhà
nước điều chỉnh tăng lãi suất, đồng thời tăng tỷ giá của đồng USD lên gần tỷ giá
thị trường và thu hẹp biên độ tỷ giá giao dịch ngoại hối từ ±5% xuống ±3% là
hoàn toàn hợp lý.
Thứ năm, tính đến cuối tháng 11, Việt Nam nhập siêu khoảng hơn 10 tỷ USD, cùng
với những chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước, đẩy mạnh cuộc vận động
người Việt dùng hàng Việt thì đây là một con số tương đối cao trong giai đoạn
hậu suy giảm kinh tế hiện nay.
Do đó, việc tăng lãi suất cơ bản và tăng tỷ giá sẽ làm tăng chi phí cho việc
nhập khẩu. Qua đó giúp giảm bớt được tình trạng nhập khẩu, kích thích xuất khẩu
nhằm hạn chế tình trạng nhập siêu cao và kích thích sản xuất-tiêu dùng hàng hóa
trong nước.
Các yếu tố trên đã ảnh hưởng đến tâm lý của người dân và doanh nghiệp cùng với
ảnh hưởng mạnh của việc thay đổi lãi suất và tỷ giá, dự đoán năm 2010 nền kinh
tế Việt Nam vẫn tiếp tục phải đương đầu với những khó khăn, thách thức của cuộc
khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu. Điều này dẫn đến hiện tượng găm giữ
ngoại tệ của người dân và doanh nghiệp. Các doanh nghiệp xuất khẩu hay các doanh
nghiệp có nguồn thu bằng ngoại tệ thì găm giữ trên tài khoản hoặc chỉ bán nhỏ
giọt cho thị trường. Các doanh nghiệp nhập khẩu vội vã mua ngoại tệ. Một bộ phận
người dân cũng chuyển từ tiền gửi nội tệ sang tiền gửi ngoại tệ. Điều này lại
càng làm trầm trọng hơn tình trạng mất cân đối cung-cầu ngoại tệ trên thị trường
ngoại hối.
Quyết định thay đổi các loại lãi suất cùng với tỷ giá đã đưa đến những phản ứng
tích cực của thị trường, cụ thể là ngay sau khi mức lãi suất cơ bản mới có hiệu
lực, các ngân hàng thương mại đồng loạt tăng lãi suất huy động lên mức cao (10,5
% sau đó giảm xuống 10,499 %). Lãi suất cho vay ở các kỳ hạn đều tăng trần lên
mức 12%. Như vậy lãi suất huy động và cho vay của các ngân hàng đã gần tiến gần
tới lãi suất thực của thị trường.
Tín dụng đối với nền kinh tế tháng 12/2009 ước tăng 0,87% so với mức tăng
3,57% của tháng 11 và mức tăng 2,04% của tháng 10.
Ngoài ra, sự điều chỉnh tỷ giá lần này của Ngân hàng Nhà nước đã lập tức có hiệu
quả, tác động ngay đến giá USD trên thị trường tự do.
Ngay trong ngày 25/11/2009, khi Ngân hàng Nhà nước công bố thông tin về việc
điều chỉnh tỷ giá, giá USD trên thị trường tự do đã giảm từ mức 19.750-19.800
buổi sáng xuống còn 19.500-19.700 vào buổi chiều. Sang ngày 26/11, tỷ giá tự do
tiếp tục giảm còn 19.300-19.500 VND/USD.
Trước những quyết định điều chỉnh của Ngân hàng Nhà nước cũng như hiệu quả từ
những quyết định này mang lại, cộng đồng quốc tế đã nhận định lạc quan về tình
hình kinh tế sắp tới của Việt Nam.
Ông
Benedict Bingham, đại diện thường trú cao cấp của của IMF tại Việt Nam nói:
“Tôi nghĩ rằng quyết định này của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho thấy họ đã
quyết tâm ngăn chặn các rủi ro kinh tế vĩ mô mà họ đang phải đối mặt và tôi cho
rằng quyết định này mang tính tích cực”.
Bà Victoria Kwakwa, Giám đốc Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam khẳng định: "Gần
đây, Việt Nam đã công bố những biện pháp kinh tế vĩ mô quan trọng mà tất cả đều
đúng hướng xét về mặt bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, điều mà tất cả chúng ta đều
cho là quan trọng để tiếp tục có được tăng trưởng. Thành công này được cộng đồng
toàn cầu ghi nhận".
Như vậy, với quan điểm điều hành và những diễn biến trong điều hành chính sách
tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước từ giai đoạn kinh tế tăng trưởng mạnh mẽ sau khi
Việt Nam ra nhập WTO đến thời kỳ kinh tế suy giảm do ảnh hưởng khủng hoảng tài
chính toàn cầu và trong giai đoạn hậu khủng hoảng hiện nay cho thấy nguyên tắc
linh hoạt và thận trọng đã trở thành nguyên tắc quan trọng, thể hiện tính đúng
đắn, kịp thời để ổn định thị trường tiền tệ nói riêng và nền kinh tế nói chung.
Thống đốc Nguyễn Văn Giàu khẳng định: “Mục tiêu chính sách tiền tệ của Ngân hàng
Nhà nước bên cạnh hỗ trợ tăng trưởng kinh tế còn phải kiểm soát lạm phát ở mức
hợp lý để ổn định kinh tế vĩ mô. Kinh tế vĩ mô ổn định chính là tiền đề vững
chắc cho tăng trưởng bền vững”./.