Trà (chè) là một trong những sản phẩm nông nghiệp chủ lực có giá trị và chất
lượng cao, một thức uống lý tưởng có nhiều giá trị về dược liệu. Cách trồng, chế
biến và thưởng thức trà là một nét văn hóa truyền thống lâu đời của người Việt.
Nghề trồng chè đã có từ lâu tại Việt Nam, nhưng cây chè được khai thác và trồng
với diện tích lớn mới bắt đầu khoảng hơn 50 năm nay.
Đối với các vùng trồng chè, chè là nguồn thu nhập chủ yếu, góp phần quan trọng
trong việc cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân.
Việc sản xuất và cung cấp chè vừa có thể đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ ngày càng
tăng trong nước và nhu cầu xuất khẩu, bởi vậy, so với các loại cây trồng khác ở
Việt Nam, chè là một trong những cây có ưu thế nhất cả về điều kiện khí hậu và
nguồn lực lao động.
Do điều kiện đất đai và khí hậu thích hợp cho nên cây chè được trồng rải rác ở
hầu hết các tỉnh trung du và miền núi của Việt Nam. Ở miền Nam, chè được trồng
chủ yếu ở hai tỉnh Lâm Đồng và Gia Lai, ở miền Bắc là các tỉnh Thái Nguyên, Phú
Thọ, Tuyên Quang, Sơn La, Hà Giang, Yên Bái, Lào Cai.
Chè Việt Nam hiện nay đã có mặt ở 118 quốc gia và vùng lãnh thổ trên tất cả các
châu lục và đang đứng hàng thứ 5 trên thế giới cả về sản lượng và xuất khẩu.
Năm 2010, Việt Nam xuất khẩu 130.000 tấn chè, thu 190 triệu USD. Với nhu cầu
tiêu thụ cao từ phía khách hàng, cộng với lợi thế về giá, Hiệp hội chè dự báo
kim ngạch xuất khẩu năm 2011 sẽ tiếp tục tăng khoảng 20% so với năm 2010.
Thức uống tốt cho sức khỏe con người
Cách đây gần 2.000 năm, trà đã được các thầy thuốc Trung Quốc sử dụng như một vị
thuốc giúp con người khỏe và trẻ hơn.
Các nghiên cứu y khoa hiện đại cũng phát hiện ngày càng nhiều giá trị dược dụng
của trà. Việc sử dụng trà hàng ngày có thể giúp phòng và chữa nhiều bệnh tật.
Theo như một số nhà nghiên cứu, Trung Quốc là nước đầu tiên chế biến chè để uống
sau đó nhờ những đặc tính tốt của nó, chè trở thành thức uống phổ biến trên thế
giới. Ngày nay chè được phổ biến rộng rãi hơn cả càphê, rượu vang và ca cao.
Nhiều nghiên cứu cho thấy, trà có khả năng phòng chống ung thư, ngăn chặn sự tổn
thương ADN. Việc uống trà thường xuyên giúp giảm 50% nguy cơ ung thư dạ dày, 40%
nguy cơ ung thư da (tỷ lệ này có thể lên đến 70% nếu uống trà với chanh).
Hợp chất Florua có trong trà có tác dụng ngăn ngừa sâu răng. Catechin và các
chất chống oxy hóa có thể tiêu diệt vi khuẩn giúp ngăn ngừa chứng hôi miệng.
Trong trà còn có canxi và magie. Hai chất này tác động với nhau có tác dụng làm
cho răng chắc khỏe. Vitamin D có trong trà có tác dụng giúp xương chắc khỏe.
Ngoài ra, các axit amin giúp hình thành protein trong cơ thể có lợi cho cơ bắp,
xương, da, tóc và có tác dụng chống lại các loại vi khuẩn, virus gây hại.
Thưởng thức trà của người Việt là một nét văn hóa truyền thống
Là người Việt Nam, dù ở tầng lớp nào, là người miền xuôi hay miền ngược, từ
thành thị đến nông thôn cũng đều uống trà như một thức uống truyền thống, mang
đậm nét văn hóa Việt.
Trà được coi là một thức uống không thể thiếu trong sinh hoạt hàng ngày, không
những có lợi cho sức khỏe mà còn là nghi thức giao tiếp giữa con người với con
người.
Có thể nói trà có mặt trong mọi hoạt động của xã hội người Việt, từ trong gia
đình ra tới ngoài phố, từ các quán nước vỉa hè đến những nhà hàng tiếp khách
sang trọng. Mỗi gia đình người Việt đều có một bộ ấm pha trà. Trong những dịp lễ
tết, ma chay, cưới hỏi, trà là thứ không thể thiếu.
Cách thưởng thức trà của người Việt cũng mang nhiều nét độc đáo, rất đa dạng và
không theo chuẩn mực nào. Người Việt uống trà theo nhiều kiểu dân dã có, sang
trọng, cầu kì cũng có. Tùy vào thời gian và sở thích riêng mà mỗi người tìm cho
mình một cách thưởng trà khác nhau, có thể là chè xanh (chè tươi) cũng có thể là
trà mộc, trà ướp hoa.Chè tươi để tiếp đãi làng xóm láng giềng thân mật, trà ướp
hoa để đãi thượng khách, khách quý phương xa đến thăm.
Ở một số vùng nông thôn, mỗi nhà thường trồng vài gốc chè ở góc vườn, bởi người
dân nông thôn có thú ra vườn tuốt mấy nắm lá chè tươi vào hãm một nồi to. Mỗi
khi đi ra đồng sẽ không quên mang theo một ấm trà xanh thơm mát dùng như một
thức uống giải khát. Hình ảnh một làng quê, với cây đa, bến nước, sân đình đã
quá quen thuộc với người Việt Nam. Nơi gốc đa đầu làng luôn là một quán nhỏ bán
những món quà ăn vặt dân dã, và ở đó không thể thiếu một ấm trà và vài thức kẹo.
Ở các thành phố lớn của Việt Nam, đi đâu cũng có thể bắt gặp những quán trà đá
ven đường, mà người ta vẫn quen gọi là “trà đá vỉa hè.”
Những quán trà đá rất đơn giản, chỉ cần có phích nước, ấm trà, vài cái cốc, vài
chiếc ghế, thế là người ta có thể ngồi uống trà và nói chuyện. Không cầu kì
trong cách pha chế, cũng không kén chọn người uống, trà đá của người Việt Nam là
một nét văn hóa rất bình dị mà cũng rất độc đáo. Khi thưởng thức trà có thể dùng
các đồ ăn nhẹ kèm với trà: kẹo lạc, kẹo vừng thanh, kẹo cu đơ, bánh cốm, bánh
đậu xanh.
Đặc biệt, trong thời kì hội nhập, có nhiều loại thức uống của phương Tây tràn
vào Việt Nam, nhưng những quán trà đá ven đường vẫn thu hút giới trẻ. Điều ấy
chứng tỏ sức hút của thứ đồ uống đặc biệt này.
Trong nghệ thuật trà của người Việt, phải nói tới nghệ thuật ướp trà, uống trà
của người Hà Nội. Muốn trà sen Hà Nội có vị sen đặc trưng thơm ngát thì sen được
chọn để ướp trà phải là sen của Hồ Tây. Mỗi cân trà phải dùng từ 1.000-1.400
bông sen tùy độ to nhỏ để ướp, và phải được hái trước lúc bình minh.
Bông sen còn đẫm sương được tách lấy phần hạt gạo rồi rải đều, cứ một lớp trà
một lớp gạo sen. Sau cùng phủ một lớp giấy bản. Ướp như vậy liên tục 5-7 lần,
mỗi lần ướp xong lại sấy khô rồi mới ướp tiếp. Bởi vậy, trà sen được dùng vào
những dịp quan trọng, dùng để tiếp đón các vị khách quý, bạn tri ân từ xa tới
thăm hay dùng làm quà biếu.
Ngoài hoa sen, trà còn được ướp với nhiều loại hoa khác nữa. Các loại hoa dùng
để ướp trà cũng phải là các thứ hoa quý, thanh tao như hoa ngâu, hoa sói, hoa
nhài, hoa cúc.
Cách uống trà ướp hoa này thể hiện được sự sang trọng, lịch lãm, tao nhã nhưng
cũng có những người sành uống trà cho rằng, uống trà ướp hương sẽ không còn
hương vị thật của trà.
Hiện nay, ở Việt Nam xuất hiện rất nhiều quán với nhiều loại trà và nhiều cách
thưởng trà. Những quán trà này mang không khí hoài cổ và yên tĩnh, mỗi quán có
phong cách riêng, là nơi bạn bè, đồng nghiệp, những người yêu nhau đến thưởng
trà. Đặc biệt, nó cũng chính là nơi lưu giữ và truyền bá văn hóa trà, nghệ thuật
thưởng thức trà của những người Việt Nam.
Ở những quán trà hiện nay có sử dụng những loại trà được ướp hương hoa pha chế
thành trà hoa có hương thơm đặc trưng của loài hoa đó. Cũng có các loại trà thảo
mộc, thường được chia ra làm bốn vị ngọt, cay, đắng, chát.
Đến với các quán trà Việt hiện nay, người thưởng trà có rất nhiều sự lựa chọn
như trà hoa cúc, trà cung đình, hồng táo trà, trà hoàng thiên kim cúc. Các loại
trà được pha theo nhiều kiểu khác nhau, để phù hợp và theo kịp với cuộc sống
hiện đại. Đó là các loại như hồng trà nóng, hồng trà đá, hồng trà sữa, hồng trà
sữa ngọc trai. Và không thể thiếu các loại trà cổ truyền như trà hoa sen, trà
hoa nhài, trà mộc.
Trước kia, trà được xem là thú vui tao nhã của những người lớn tuổi, nhưng hiện
nay trà đang rất được giới trẻ quan tâm và tìm hiểu về nó. Những quán trà này
cũng thu hút rất nhiều khách quốc tế tới thưởng thức. Không gian tại các quán
trà Việt được rất yên tĩnh, cánh bài trí đơn gian, gần gũi với thiên nhiên. Một
không gian yên tĩnh, những bản nhạc không lời du dương là một không gian phù hợp
để thưởng trà.
Festival trà quốc tế lần thứ nhất - Thái Nguyên 2011 là cơ hội để giới thiệu văn
hóa trà, quảng bá các sản phẩm trà Việt Nam với du khách trong và ngoài nước; là
dịp để giao lưu, trao đổi kinh nghiệm về cây chè, sản phẩm chè giữa các doanh
nghiệp trồng, chế biến, tiêu thụ chè trong nước và quốc tế, từng bước nâng cao
hiệu quả sản xuất kinh doanh đối với cây chè và sản phẩm chè Việt Nam./.
Thúy Hằng (TTXVN/Vietnam+)