Ảnh chỉ có tính minh họa. (Ảnh: Hoàng Hải/TTXVN)

Có chính sách, có con người, nhưng sau 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam (2001-2010), nhiều chỉ tiêu đề ra đều không đạt hoặc thấp hơn nhiều so với kế hoạch.

Theo các ý kiến của doanh nghiệp tham gia tại Hội thảo "Chiến lược phát triển ngành cơ khí" do Bộ Công Thương tổ chức sáng 10/11, nếu việc đầu tư tiếp tục dàn trải, thì mục tiêu đưa Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 sẽ khó thành hiện thực.

Chú trọng mỗi lắp ráp

Đưa ra ý kiến với lãnh đạo Bộ Công Thương, ông Nguyễn Tăng Cường, Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng Giám đốc Tập đoàn công nghiệp Quang Trung cho rằng, trong khi các nguồn lực của nhà nước có hạn thì việc phân bố đầu tư cũng không đồng đều, điều này đã khiến ngành cơ khí đã khó lại càng yếu.

Cụ thể, việc đầu tư cần chú trọng vào 7 khâu như: Thiết kế, Chế tạo khuôn mẫu, tạo phôi, gia công cắt gọt, nhiệt luyện, lắp ráp, thử nghiệm xuất xưởng mới trở thành hàng hóa... thì ở Việt Nam mới chỉ tập trung vào khâu lắp ráp, do vậy mọi chủ trương đề ra đều không thực hiện được.

Cũng theo ông Cường, ở nước ngoài,  sản phẩm được chuyên môn hóa và giá cả rất cạnh tranh, ​nhưng ở Việt Nam, thì doanh nghiệp phải đầu tư khép kín cả 7 khâu.

"Một ngành mũi nhọn mà không được đầu tư thích đáng thì không thể tạo ra tiềm lực cho quốc gia được, do vậy ngoài thị trường thì nhà nước cần có cơ chế hấp dẫn để doanh nghiệp yên tâm bỏ vốn đầu tư," ông Cường nói.

Đồng quan điểm trên, nhưng theo đại diện Tổng công ty máy động lực và máy nông nghiệp, nhiều chính sách đưa ra cho ngành cơ khí vẫn chưa thực sự đi vào cuộc sống hoặc.

Đơn cử chính sách vay vốn, dù Thủ tướng Chính phủ đã ban hành nhiều cơ chế hỗ trợ cho doanh nghiệp khi có dự án tốt được vay vốn ưu đãi nhưng khâu tiếp cận lại rất khó khăn vì phải đáp ứng rất nhiều hồ sơ, thủ tục.

Lãnh đạo Bộ Công Thương họp bàn cách tháo gỡ khó khăn cho ngành cơ khí (Ảnh: Đức Duy/Vietnam+)

Cơ chế phải đảm bảo tính khả thi

Nhìn vào các chỉ tiêu chính về sản xuất, kinh doanh của ngành cơ khí trong giai đoạn 2003-2013 có thể thấy, tuy giá trị sản xuất năm sau cao hơn năm trước nhưng khả năng đáp ứng nhu cầu trong nước của ngành cơ khí năm 2012 mới đạt 32,58% (thấp hơn mục tiêu của Chiến lược là đáp ứng 40-50% nhu cầu trong nước vào năm 2010).

Không những thế, tỷ lệ nhập khẩu liên tục tăng cao, nhất là máy móc, thiết bị để phục vụ sản xuất, đơn cử năm 2006 giá trị nhập khẩu cơ khí là 8,7 tỷ USD, năm 2012, giá trị nhập khẩu cơ khí là 22,460 tỷ USD. Đến năm 2013, giá trị nhập khẩu ngành cơ khí ước đạt 24,8 tỷ USD, nhập siêu ngành cơ khí tương đối lớn hơn 10 tỷ USD.

Điều đó cho thấy mục tiêu phát triển ngành cơ khí còn nhiều bất cập. Phần lớn các lĩnh vực chưa đạt chỉ tiêu đề ra, trong đó đặc biệt là công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí và phát triển sản xuất sản phẩm cơ khí trọng điểm.

Theo ông Ngô Quang Quý, Phó Tổng Giám đốc Công ty lắp máy Việt Nam (Lilama) cho rằng, do nhiều vật liệu đầu vào còn phụ thuộc nhập khẩu nên đã đẩy giá thành lên cao.

Bên cạnh đó, đội ngũ chuyên gia cho sản xuất vật liệu mới còn thiếu và yếu, nhiều cán bộ chuyên môn cao và nguồn chất xám của Việt Nam đang nhảy ra nước ngoài làm việc, khiến ngành cơ khí ngày càng thiếu hụt ng​hiêm trọng.

Trước những ý kiến nêu ra, Thứ trưởng Cao Quốc Hưng ​nhấn mạnh, do xuất phát điểm của ngành cơ khí còn thấp, hiện nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm đa số nên không chỉ thiếu cả vốn mà thiếu cả con người.

Từ bài học ngành công nghiệp ô tô, theo Thứ trưởng, để phát triển ngành công nghiệp cơ khí cũng cần phải có một chính sách hỗ trợ chung cho các ngành công nghiệp phụ trợ khác.

Tuy nhiên, trong bối cảnh nguồn lực còn hạn chế, trước mắt nhà nước c​ó thể ​đẩy mạnh những chính sách chung như tạo dung lượng thị trường để doanh nghiệp yên tâm sản xuất, kinh doanh, qua đó nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm.

"Trong Chiến lược mới  cho ngành cơ khí, nhà nước sẽ có định hướng và đi vào cuộc sống, không vẽ ra để làm không được mà cần cùng nhau làm," Thứ trưởng chốt ý kiến./.