Chùa Thầy vi diệu

Chùa Thầy vi diệu - long lanh dấu ấn truyền nhân

Chùa Thầy tọa ở chân núi Sài Sơn, Quốc Oai, cách trung tâm Hà Nội 20km có từ 900 năm trước gắn liền với Thánh tăng Từ Đạo Hạnh.
Xin giới thiệu bài viết của Hòa thượng Thích Giác Toàn, Phó chủ tịch Hội Đồng trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, về chùa Thầy, ngôi chùa ở chân núi Sài Sơn, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây cũ, nay là xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, Hà Nội, cách trung tâm Hà Nội khoảng 20 km về phía Tây nam. Chùa Thầy 900 năm trước gắn liền với Thánh tăng Từ Đạo Hạnh, một vị thiền sư với hành trạng đặc biệt được sử sách ghi lại, truyền tụng nhiều giai thoại mật hạnh cho đến ngày nay.  900 năm sau, cũng tại ngôi chùa này, Hòa thượng Thích Viên Thành được bổ xứ trụ trì hoằng dương Phật pháp; một lần nữa, đã góp phần làm sống lại nguồn tâm linh xưa nơi đây. Theo quan niệm tái sinh trong đạo Phật, đặc biệt là trong truyền thống Kim Cương thừa, những sự việc như vậy không phải là ngẫu nhiên, mà phải có nhân duyên, chắc chắn có sự liên hệ mật thiết với nguồn mạch tâm linh ở ngôi chùa thiêng này. Chuyện ngàn xưa... Câu chuyện Từ Vinh làm Tăng quan Đô Án có hiềm khích với Diên Thành Hầu, bị Diên Thành Hầu nhờ pháp sư Đại Điên dùng pháp thuật đánh chết trên dòng sông Tô Lịch vẫn còn trong huyền sử xa xưa. Trong sách Thiền sư Việt Nam vẫn còn ghi đậm nét câu chuyện Từ Lộ (tức Từ Đạo Hạnh), con của Từ Vinh ẩn vào núi trì tụng Đại bi tâm Đà la ni, khi thấy chú pháp đã hiển linh liền tìm đến pháp sư Đại Điên báo hiếu cho cha, giai thoại còn lưu trong nhân gian. Trong Thiền sư Việt Nam cũng ghi rõ, khi đạo hiếu nghĩa xong rồi “từ đây, oan nghiệp xưa sạch như tuyết tan, các việc đời lặng như tro lạnh”, sư trải khắp tùng lâm tìm học pháp thiền. Sau thời gian thọ học thấu rõ chân tâm, thiền sư về nhận trụ trì chùa Thiên Phúc, núi Sài Sơn, tức chùa Thầy ngày nay. Một hôm có vị Tăng đến hỏi: “Đi đứng nằm ngồi thảy đều là Phật tâm, thế nào là Phật tâm?” Sư đáp: “Tác hữu trần sa hữu Vi không nhất thiết không Hữu không như thủy nguyệt Vật trước hữu không không.” Bản dịch của Ngô Tất Tố: “Có thì có tự mảy may Không thì cả thế gian này cũng không Cũng như bóng nguyệt lòng sông Ai hay không có, có không lẽ nào!” Có thể nói, trong 5 thiền sư thế hệ thứ 12 dòng Tỳ Ni Đa Lưu Chi (Thiền sư Định Huệ, Vạn Hạnh, Đạo Hạnh, Thuần Chân, Trì Bát) mỗi vị đều có một tuyệt kỹ về tu chứng để cống hiến cho đời, mà Từ Đạo Hạnh là vì sao sáng của thế hệ. Qua bài kệ, thiền sư đã cho chúng ta thấy nét đặc sắc của tuệ giác, Ngài đã soi chiếu cùng tột mọi hiện hữu nhân sinh: “Có thì có tự mảy may  Không thì cả thế gian này cũng không.” Và hình ảnh “ánh trăng dưới dòng sông” để chỉ mọi hiện tượng tạm bợ, giả ảo, phù du của các pháp trong đời quả là “cụ thể” không gì hơn… để mọi người chúng ta cùng cảm nhận với Ngài. Bởi những cái “có” trong đời như “tình, tiền, danh, lợi…” luôn lung linh hư ảo như “ánh trăng dưới dòng sông.” Con người sống giữa cuộc đời mà nhận ra được cảnh trí chung quanh mình một cách rõ ràng rồi thì bước đi thứ hai là tự mình biết dừng lại, không để cho dòng đời lôi cuốn, chi phối nữa. Và khi ấy, tức khắc con người có thể quay lại quán chiếu soi sáng chính mình qua bài kệ thân chứng của thiền sư: “Nhật nguyệt tại nham đầu Nhân nhân tận thất châu Phú nhân hữu câu tử Bộ hành bất kỵ câu”. Trần Quê Hương chuyển thơ: “Trời trăng trên đỉnh non xanh Người người đánh mất căn lành báu châu Như phú ông bỏ ngựa mau Đi bộ rồi lại than rầu… mỏi chân!” Đa số chúng sinh phàm phu trong đời thường hay quên mình, không nhận ra “báu châu” sẵn có nơi mình mà lại thích tìm “báu châu” ở bên ngoài mình nên con người thường hay rơi vào bi kịch lỡ làng. Thiền sư từ đỉnh Sài Sơn, với tâm lực đại từ, đại bi đã thấy rõ hệ lụy của con người trong cuộc luân hồi dài nên đã tận tụy chỉ cho con người “báu châu” ở ngay nơi mình; “tâm chân, Phật tính” cũng ở ngay nơi mình, đừng bỏ mình mà chạy tìm cái bên ngoài mình chỉ luống công, vô ích như hình ảnh phú ông có ngựa hay mà không chịu đi, bỏ ngựa xuống đi bộ, rồi lại than mỏi chân… Đúng là con người thường hay tạo ra “bi kịch” cho chính mình, rồi than khổ! Một điểm đặc sắc và độc đáo nơi thiền sư là sự chứng ngộ tự thân và tuệ giác của Phật tính. Những gì Ngài được, Ngài muốn cho mọi người cùng được. Đó là tính xuyên suốt của tâm tính con người trong cuộc luân hồi dài. Khi còn là chúng sinh phàm phu thì cũng là mình; đến khi thành hiền thánh hay Phật thì cũng là mình, chỉ có một mà thôi, chớ không phải ai khác, có thể thay mình được. Bài kệ thị tịch của ngài đã chỉ cho chúng ta thấy rõ: “Thu lai bất báo nhạn lai quy Lãnh tiếu nhân gian tạm phát bi Vị báo môn nhân hưu luyến trước Cổ Sư kỷ độ tác kim Sư”. Trần Quê Hương chuyển thơ: “Thu về chẳng hẹn nhạn bay Người đời nghĩ luống thương thay phận người! Chết rồi, lưu luyến khổ thôi! Thầy xưa, mấy lượt hóa… hồi Thầy nay.”/. Vi diệu ngàn sau Sau ngày đất nước hòa bình, tháng 10 năm 1979, lần đầu tiên tôi được tháp tùng phái đoàn thứ hai của chư Tôn đức giáo phẩm các tổ chức, hệ phái Phật giáo miền Nam ra thăm miền Bắc. Khi đến viếng chùa Quán Sứ, tôi được gặp nhiều huynh đệ Tăng ni sinh trẻ đang theo học Trường Tu học Phật pháp tại đây. Phần lớn huynh đệ theo học nơi đây đều là đệ tử của những vị cao tăng các chốn tổ già lam trên đất Bắc, trong số đó có sư ông Viên Thành, đệ tử Cụ Tổ Hòa thượng Thanh Chân, trụ trì chùa Hương.


Chùa Thầy vi diệu - long lanh dấu ấn truyền nhân ảnh 1
Hòa Thượng Thích Viên Thành.
Đó là lần đầu tiên ra thăm miền Bắc, chưa được giao tiếp và quen biết nhiều nhưng tôi luôn để tâm tìm hiểu; thì ra, trong số mấy mươi vị tăng trụ xứ tại Quán Sứ thời bấy giờ, từ sâu thẳm của lòng mình cho tôi cảm nhận rất lạ… là dường như những vị Tăng sinh được tồn tại, chắt lọc sau khi chiến tranh kết thúc tu học ở đây đều là “căn tiên cốt Phật”, mỗi vị đều có một nét, một phong cách riêng, rất riêng. Tôi còn nhớ mãi hình ảnh hai vị Sư ông đứng đầu là Mật Hựu và Thanh Thiều rất tăng tướng, uy nghi và ẩn mật; Sư ông Thanh Hưng rất giống Hòa thượng Thích Huệ Thới, trụ trì Tổ đình Ấn Quang, thành phố Hồ Chí Minh; Sư ông Bảo Nghiêm trông dáng vẻ rất phúc báu, dễ thương; trong số này, Sư ông Viên Thành có một phong cách rất đặc biệt, nhìn bề ngoài nhỏ nhắn, mảnh khảnh, ốm yếu… nhưng lại rất chắc chắn và sâu lắng, sư ông có gương mặt trầm lặng và ánh mắt long lanh. Con người đó với hình hài xưa cũ Chín trăm năm giờ tái hiện ta bà Dáng nho nhỏ… nụ cười hiền thanh tú Ánh mắt trầm, tâm thức nở hương hoa.
Nhân duyên tọa chủ Chùa Hương-Chùa Thầy
Theo Phật giáo, những gì hiện hữu đều có nhân duyên. Việc Hòa thượng Thích Viên Thành được bổ xứ tọa chủ tùng lâm Hương Tích, đặc biệt là chùa Thầy - nơi chín trăm năm trước thiền sư Từ Đạo Hạnh đã tu tập, hành đạo và viên tịch - hóa thánh hẳn cũng có nhân duyên sâu xa. Chùa Hương trăm đỉnh non thiêng Mây giăng, sương phủ diệu huyền xưa sau Suối Yến lượn khúc chèo mau A Di Đà Phật… lối vào thanh lương Mùa xuân trẩy hội chùa Hương Thiên Trù nhẹ bước vấn vương núi rừng Động Hương Tích lòng rưng rưng Quan Âm Bồ tát chúc mừng lòng con Trăm năm in dấu chân son Ngàn năm hồi tưởng lối mòn phạm âm Tố Liên tổ ấn thậm thâm Thanh Chân tổ nối truyền tâm phụng thờ Chùa Thầy còn mãi kinh thơ Vào hang Thánh hóa duyên chờ Cổ linh Chín trăm năm khách hữu tình Giờ đây gặp lại hỏi mình nhớ chăng? Chùa Hương - chùa Thầy hội Tăng Tọa chủ khai pháp hương trăng thanh bình Thầy xưa mấy lượt đăng trình Thầy nay hiển lộ viên minh nhiệm mầu. Với hai sự kiện hiện hữu “tục diệm truyền đăng” nơi chùa Thầy trước và sau chín trăm năm (1050 - 1950) cho chúng ta thấy có sự gặp gỡ kỳ diệu của dòng thời gian. Đặc biệt là lời thơ “huyền ký” của thiền sư: “Vị báo môn nhân hưu luyến trước Cổ Sư kỷ độ tác kim Sư.” Đây quả là hào quang màu nhiệm: "Chùa Thầy mặt nước long lanh Truyền nhân đọng lại Viên Thành xưa sau Ngước nhìn Thánh hóa trên cao Soi trong nhân thế ngọt ngào bể dâu Từ Đạo Hạnh ngỡ chiêm bao Lý Thần Tông… thức mộng vào nhân gian Tích xưa quả báo bàng hoàng Tích nay lan tỏa hào quang giữa đời Trăm năm rạng rỡ xinh tươi Kim Cang thừa đẹp… dáng người thiên thu. Ánh sáng Kim Cương thừa Kim Cương thừa hay Mật tông có mặt ở nước ta rất sớm. Căn cứ vào truyện tích của các vị cao Tăng được ghi chép trong sách Thiền uyển tập anh thì ở thế kỷ thứ 6, Mật giáo đã được đề cập qua hành trạng của chư vị tiền nhân. Dù không phổ biến như Tịnh Độ hay Thiền, nhưng Mật tông vẫn có dòng chảy tương tục trong mạng mạch của Phật giáo Việt Nam, được truyền thừa qua các thế hệ, gìn giữ và hoằng hóa theo đặc thù pháp môn ở các thời đại. Hòa thượng Thích Viên Thành là một trong những truyền nhân, có vai trò quan trọng góp phần làm phục hưng Mật tông ở miền Bắc nước ta trong giai đoạn cuối thế kỷ 20. Tư liệu ghi lại rằng, theo lời mời của Ngài Đại sứ nước Anh tại Bhutan, Hòa thượng Thích Viên Thành - Tọa chủ chùa Hương và chùa Thầy, đã đến Bhutan và thọ pháp với Đức Pháp chủ thuộc dòng truyền thừa Drukpa. Năm 1992, cố Hòa thượng trở về Việt Nam và bắt đầu truyền dạy các pháp hành trì đã tiếp nhận trực tiếp từ các bậc Thầy Kim cương thừa ở Vương quốc Phật giáo Bhutan. Mật tông sau thời gian yên ắng đã được xiển dương, đặc biệt Hòa thượng là người đã tạo nên nhịp cầu nối giữa Mật tông Tây Tạng ở Bhutan với Việt Nam. Một số nghiên cứu ban đầu cho rằng trong quá trình truyền bá, để phù hợp với điều kiện tâm linh Việt Nam, cố Hòa thượng đã có sự chọn lọc các pháp môn hành trì Kim Cương thừa mà Hòa thượng đã được truyền thụ trực tiếp từ các bậc Thầy ở Bhutan, do đó, có ít nhiều điểm khác biệt so với nghi quỹ khuôn mẫu. Đó là một trong những điểm rất đáng lưu ý để giới nghiên cứu về dòng truyền thừa Mật tông ở nước ta và là một trong những cơ sở quan trọng để tìm hiểu, so sánh, đánh giá nhằm làm sáng tỏ vai trò quan trọng của Hòa thượng Thích Viên Thành trong lịch sử phát triển của Mật tông tại Việt Nam. Dù thời gian hành đạo theo pháp môn Kim Cương thừa sau khi trở về quê hương từ Bhutan đến lúc viên tịch chưa đến hai mươi năm, nhưng những gì Hòa thượng đã đặt nền móng, truyền thừa, hướng dẫn thực sự bắt rễ trong đời sống của nhiều Tăng Ni, Phật tử, nhất là phía Bắc. Ảnh hưởng của Hòa thượng về lĩnh vực này, có thể nói là rất lớn, là tác nhân quan trọng khơi nguồn cho sự giao lưu giữa các dòng Kim Cương thừa ở Bhutan, Ấn Độ… với Việt Nam được phát triển, mở đầu cho những chuyến thăm viếng, hoằng pháp của các phái đoàn Kim Cương thừa ở nước ngoài đến Việt Nam cũng như các đoàn Tăng Ni Phật tử Việt Nam có duyên với pháp môn này sang học đạo tại các trung tâm Kim Cương thừa Tạng truyền nổi tiếng trên thế giới. Nhà giáo dục Phật giáo tâm huyết Là một trong những Tăng sỹ ở miền Bắc được tuyển chọn vào khóa I, niên khóa 1981-1985 trường Cao cấp Phật học Việt Nam cơ sở I, sau khi tốt nghiệp (l985), Hòa thượng trở về chốn Tổ, phụng sự Tam Bảo và bắt đầu hoằng dương Phật pháp. Từ rất sớm, Hòa thượng đã luôn quan tâm đến việc đào tạo, giáo dục thế hệ Tăng Ni trẻ, coi đó là việc báo đáp thâm ân của chư Phật một cách thiết thực nhất. Với thực học và nhiệt tâm như thế, Hòa thượng đã được cung thỉnh làm giáo thọ sư ở các trường Trung cấp Phật học cũng như trường Cao cấp Phật học Việt Nam, sau này là Học viện Phật giáo Việt Nam tại Hà Nội. Hòa thượng là người đã cùng Chư tôn đức thành lập Trường Trung cấp Phật học tỉnh Hà Tây (cũ) và được tín nhiệm mời đảm nhiệm trọng trách Phó Hiệu trưởng thường trực. Năm 1997, Hòa thượng được Trung ương Giáo hội suy cử làm Phó Ban Giáo dục Tăng Ni Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, chung tay góp sức với chư tôn đức giáo phẩm Tăng Ni ở miền Nam, miền Trung cùng chăm lo, gánh vác, góp phần vào sự nghiệp chung Giáo dục Tăng Ni, xây dựng chuẩn hóa hệ thống giáo dục Phật giáo Việt Nam thời hiện đại. Tôi còn nhớ mãi, có lần (trước năm 2000), tôi đưa phái đoàn Ban Giáo dục Tăng Ni Trung ương đi thăm các cơ sở Phật học tại các tỉnh miền Bắc. Đoàn do Hòa thượng Thích Chơn Thiện, Phó Ban Thường trực dẫn đầu, có GS. TS. Lê Mạnh Thát cùng đi. Lúc đoàn đến thăm Trường Trung cấp Phật học Hà Tây, cơ sở tại chùa Mỗ Lao, thị xã Hà Đông. Bấy giờ Hòa thượng Thích Viên Thành đã vô cùng hân hoan đón tiếp và giới thiệu từng thành viên đoàn với Tăng Ni sinh, đồng thời giới thiệu từng bước phát triển giáo dục Tăng Ni của Ban Trị sự Phật giáo Hà Tây. Ngoài trách nhiệm trực tiếp với thế hệ Tăng Ni sinh trẻ tại tỉnh nhà, Cố Hòa thượng đã bày tỏ tâm nguyện của mình với công cuộc xây dựng định hướng giáo dục Tăng Ni của Giáo hội về lâu, về dài. Cố Hòa thượng đã thể hiện ý tưởng đó với Hòa thượng Thích Chơn Thiện và các thành viên đoàn ước nguyện của Hòa thượng là làm thế nào Ban Giáo dục Tăng Ni Trung ương thực hiện được bộ sách Giáo khoa Phật học để làm nền tảng giáo dục Phật giáo nước nhà. Cố Hòa thượng khả hứa sẽ đem hết sức mình đóng góp tài chánh cho việc thực hiện ý tưởng này được sớm thành tựu. Không ngờ, hôm nay - tưởng niệm 10 năm (2002 – 2012) sau ngày Hòa thượng Thích Viên Thành viên tịch, tâm nguyện này vẫn còn là nhu cầu cấp thiết của sự nghiệp giáo dục Phật giáo Việt Nam./.
Hòa thượng Thích Giác Toàn (Vietnam+)

Tin cùng chuyên mục