Đạo diễn Jacques Rivette. (Nguồn: newyorker.com)

Đạo diễn Jacques Rivettet, người nổi danh bên cạnh những tên tuổi Jean-Luc Godard và Claude Chabrol trong phong trào "Làn sóng mới" của Pháp những năm 1960, vừa qua đời ở tuổi 87.

Có thể không nổi danh như những người cùng thời, nhưng nhiều bộ phim của đạo diễn Rivette lại có ảnh hưởng đáng kể tới nền điện ảnh Pháp.

Ông là người có đóng góp lớn trong trào lưu "Làn sóng mới," một trong những trào lưu nghệ thuật đáng chú ý nhất của lịch sử điện ảnh thế giới.

Jacques Rivettet bắt đầu sự nghiệp như một nhà phê bình trên tạp chí sáng tạo Cahiers du Cinema của chủ bút Andre Bazin.

Tạp chí này có vai trò quyết định trong sự hình thành và phát triển của phong trào "Làn sóng mới" ở Pháp. Tuy nhiên, theo Rivettet, trở thành nhà phê bình chưa bao giờ là tham vọng chính của ông mà làm ra những bộ phim của riêng mình mới là khao khát khi viết.

Phim truyện đầu tay của Rivettet là "Paris Belongs to Us," phát hành năm 1960. Sau đó, ông đạo diễn hơn 25 bộ phim khác, bao gồm phim thử nghiệm "Out 1" năm 1971, dài tới gần 13 tiếng (phiên bản ngắn hơn là Out 1: Spectre, dài hơn 4 tiếng) và đặc biệt là "Celine and Julie Go Boating" năm 1974 - bộ phim nổi tiếng nhất của ông.

Mùa Hè năm 1975, đạo diễn người Pháp bị suy nhược thần kinh khi đang làm phim "Marie et Julien." Danh tiếng của ông cũng giảm dần từ đó. Tuy nhiên, đến cuối những năm 1980, đầu 1990, đạo diễn Rivette lại thổi một làn gió mới vào giới điện ảnh Pháp với bộ phim "La Belle Noiseuse," phát hành năm 1991.

Bộ phim với sự tham gia diễn xuất của Emmanuelle Beart, Michel Piccoli và Jane Birkin đã được giới phê bình đánh giá rất cao. Bộ phim cuối cùng của ông là "Around A Small Mountain," phát hành năm 2009, cũng do Birkin thủ vai chính.

Rivette không có con. Ông kết hôn cùng nhiếp ảnh gia, nhà biên kịch Marilu Parolini đầu năm 1960. Cặp đôi sớm ly dị nhưng vẫn giữ mối quan hệ làm việc.

Đạo diễn Jacques Rivette từng đoạt nhiều giải thưởng lớn trong và ngoài nước. Riêng với bộ phim "La belle noiseuse," ông được trao Giải của Hiệp hội phê bình phim Los Angeles cho phim ngoại ngữ hay nhất năm 1991, giải Grand Prix tại Liên hoan phim Cannes, giải Prix Melies của từ giới phê bình Pháp, giải Kinema Junpo cho phim tiếng nước ngoài hay nhất.

Ngoài ra, phim của ông cũng nhiều lần nhận giải của Viện Hàn lâm Nghệ thuật Điện ảnh và Truyền hình Anh, giải SACD, giải Turia; giải tại Liên hoan phim quốc tế Berlin, Liên hoan phim quốc tế Locarno và Liên hoan phim quốc tế Valladolid.

Năm 1991, ông được trao giải thành tựu "Pardo d’onore" tại Liên hoan phim quốc tế Locarno./.