(Ảnh minh họa: Vũ Sinh/TTXVN)

Ngày 3/6, tại Đồng Nai, Viện Khoa học Lao động và Xã hội (Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội) phối hợp với Dự án hỗ trợ chính sách thương mại và đầu tư của châu Âu tổ chức Hội thảo công bố báo cáo khảo sát về thu nhập và điều kiện sống của lao động nữ di cư trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI).

Khảo sát trên nhằm hỗ trợ việc xác định chính sách hướng tới việc tăng thu nhập và cải thiện, ổn định đời sống cho lao động nữ di cư trong các doanh nghiệp FDI, đặc biệt là các doanh nghiệp có sản phẩm xuất khẩu sang thị trường châu Âu.

Nghiên cứu khảo sát được thực hiện cuối năm 2014 tại 3 địa phương: Bắc Ninh, Đồng Nai và Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại mỗi địa bàn, nhóm nghiên cứu thực hiện điều tra 13 doanh nghiệp (trong đó 10 doanh nghiệp là FDI, 3 doanh nghiệp nằm ngoài FDI) có hàng xuất khẩu đi châu Âu, tập trung vào những ngành nhiều lao động nữ như may mặc, da giày, dệt, thủy sản, chế biến thực phẩm.

Theo đánh giá, hiện nay, lao động trong các doanh nghiệp FDI hoạt động tại các khu công nghiệp, khu chế xuất hầu hết là lao động di cư đến từ các địa phương khác, trong đó lao động nữ chiếm tỷ lệ khá lớn, chủ yếu làm việc trong các ngành như may mặc, da giày, điện tử, chế biến thực phẩm…

Tại nơi cư trú mới, với đồng lương nhận được, người nhập cư gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống bởi các chi phí về nhà ở, giáo dục, y tế, chi phí sinh hoạt.

Nghiên cứu khảo sát tập trung vào một số nội dung chủ yếu như thu nhập của lao động nữ di cư, cách sử dụng thu nhập, điều kiện sống hiện tại, dự định cho tương lai, các vấn đề khác như gia đình, con cái...

Kết quả khảo sát của Dự án thực hiện tại các doanh nghiệp ở Bắc Ninh, Đồng Nai và Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy mức thu nhập bình quân của lao động nữ trong các doanh nghiệp FDI ở mức trên dưới 5 triệu đồng/người/tháng.

Nguồn thu nhập chủ yếu từ tiền lương, làm thêm giờ, phụ cấp, tiền thưởng… Mức thu nhập của lao động nữ tại các doanh nghiệp này thấp hơn mức thu nhập của lao động nữ tại các doanh nghiệp ngoài FDI và thấp hơn so với nam giới.

Mức độ trang bị phương tiện bảo hộ lao động của lao động nữ di cư cũng luôn thấp hơn so với lao động nữ địa phương (84,8% so với 95,7%). Vấn đề tiếp cận nhà ở và các vấn đề về giáo dục con cái, chăm sóc sức khỏe y tế của lao động nữ nhập cư còn nhiều hạn chế.

Tình trạng khó khăn trong việc tiếp cận với trường học, nhà trẻ của lao động nữ di cư trong các doanh nghiệp FDI là 69,1%; trong khi đối với nhóm lao động nữ di cư ngoài FDI là 3,7% và lao động nữ địa phương là 1,1%.

Nguyên nhân của việc lao động nữ di cư khó tiếp cận với giáo dục là do khó khăn về kinh tế, khó khăn về thủ tục hành chính, xa nơi cư trú và làm việc.

Tiến sỹ Bùi Sỹ Tuấn, Trưởng phòng Nghiên cứu chính sách an sinh xã hội, Viện Khoa học Lao động và Xã hội cho rằng Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội cần nghiên cứu cơ chế phát triển các trung tâm, trạm đón lao động di cư, thu hút, tuyển dụng lao động nhằm hỗ trợ người lao động từ các vùng đến thành phố tìm việc làm.

Bộ cũng cần đổi mới công tác dạy nghề, đào tạo nghề chất lượng hơn để đảm bảo nguồn cung lao động tốt hơn cho doanh nghiệp FDI; nghiên cứu hoàn thiện các quy định pháp luật về lao động như chính sách làm thêm giờ, lao động đặc thù, lao động nữ, lao động di cư, bởi đây là nhóm lao động dễ tổn thương, cần được hỗ trợ.

Bà Hoàng Thị Thu Hải, đại diện Ban Quản lý các khu công nghiệp Bắc Ninh cho biết tỉnh Bắc Ninh có trên 189.000 lao động, trong đó gần 130.000 là lao động nữ. Vấn đề nhà ở cho lao động nữ di cư, chăm sóc y tế, đời sống tinh thần của đối tượng này còn nghèo nàn và hạn chế.

Do đó, cần có sự đầu tư từ ngân sách hoặc xã hội hóa để phát triển hệ thống dịch vụ hạ tầng xã hội như nhà trẻ, trường học, nhà ở cho công nhân các khu công nghiệp, trong đó cần ưu tiên đối tượng lao động nữ di cư.

Theo ông Trần Anh Tuấn, Phó Giám đốc Trung tâm Dự báo nhu cầu nhân lực và thông tin thị trường lao động Thành phố Hồ Chí Minh, hiện thành phố có khoảng 890.000 lao động nữ.

Đa số lao động nữ nhập cư có hoàn cảnh khó khăn, trình độ văn hóa, trình độ nghiệp vụ chuyên môn thấp, tham gia làm việc ở những doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động và thu nhập không cao.

Theo dự báo, trong khoảng 10 năm tới, mỗi năm Thành phố Hồ Chí Minh cần thêm khoảng 270.000 lao động, trong đó hơn 50% là lao động nữ.

Do đó, việc mở rộng các chương trình hỗ trợ vốn cho người nhập cư, đặc biệt là lao động nữ sẽ giúp đối tượng này có điều kiện tiếp cận với các dịch vụ về nhà ở và các nhu cầu khác.

Ngoài ra, Nhà nước, doanh nghiệp cũng cần tạo các điều kiện khác về chính sách, phương thức hỗ trợ để giúp đỡ đối tượng này./.