Ảnh minh họa. (Nguồn: TTXVN)

Theo đó, bên cạnh những nỗ lực hướng tới Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) vào năm 2015, Việt Nam vẫn đang tích cực tham gia đàm phán một số hiệp định thương mại tự do (FTA) đa phương, như Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-EU, Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP).

Đây chính là cuộc đua nhằm đạt được các tiểu chuẩn FTA tốt hơn để đạt được những chuỗi giá trị to lớn.

Thị trường rộng lớn

Chính thức khởi động đàm phán vào năm 2012,  RCEP là hiệp định thương mại tự do chất lượng cao hướng tới mục tiêu hình thành quan hệ đối tác kinh tế toàn diện giữa ASEAN với 6 đối tác bao gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia, New Zealand và Ấn Độ.

Cụ thể, RCEP là một hiệp định đầy tham vọng, với một khu vực có dân số lớn nhất v​à tổng GDP khoảng 19 nghìn tỷ USD, chiếm khoảng 30% GDP toàn cầu.

Thành công của RCEP phụ thuộc vào việc khối ASEAN trở thành trung tâm của quan hệ đối tác kinh tế khu vực, như Việt Nam cùng Brunei, Malaysia và Singapore là thành viên ASEAN tham gia các hiệp định khu vực với Australia, New ​Zealand, Nhật Bản thì có thể chia sẻ ưu đãi chéo với những nước không phải thành viên RCEP và TPP như một cách tiếp cận của tự do hóa.

Theo đánh giá từ giới chuyên môn, RCEP nhìn chung phù hợp với quan điểm của Việt Nam nhằm theo đuổi hội nhập kinh tế sâu rộng hơn, gắn kết với những cải cách trong nước mạnh mẽ và toàn diện hơn. Tuy nhiên, việc thực hiện RCEP đi kèm với cả cơ hội sẽ là thách thức lớn do quy mô của Hiệp định này là khá rộng.

Chuỗi sản xuất khu vực

Để tận dụng cơ hội đồng thời giảm thiểu các tác động bất lợi sau khi RCEP đi vào thực hiện, Việt Nam phải chuẩn bị sẵn sàng ở cả cấp chính sách và doanh nghiệp. Với lý do trên, Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) đã phối hợp với Dự án hỗ trợ Chính sách Thương mại và Đầu tư của châu Âu (EU-MUTRAP) thực hiện Báo cáo “Đánh giá tác động của Hiệp định đối tác toàn diện khu vực (RCEP) đối với nền kinh tế Việt Nam.”

Báo cáo này chỉ ra, tương tự như các FTA và cam kết hội nhập khác, RCEP được kỳ vọng mang lại cho Việt Nam những cơ hội mới thông qua việc cải thiện tiếp cận các thị trường đầu tư và xuất khẩu của ASEAN cùng các đối tác về những nhu cầu hàng hóa, dịch vụ đa dạng hơn. Thêm vào đó, mở cửa có nghĩa hàng hóa nhập khẩu sẽ rẻ hơn (đầu vào cho sản xuất, máy móc thiết bị có công nghệ hiện đại), cơ hội tăng cường hợp tác kỹ thuật và vị thế của Việt Nam trong giải quyết tranh chấp về thương mại và đầu tư.

Song ông Nguyễn Anh Dương, đại diện nhóm tác giả thực hiện Báo cáo nhấn mạnh, điều mong chờ lớn nhất từ RCEP là sự tham gia của các thành viên vào chuỗi giá trị và sản xuất khu vực. Không chỉ có vậy, khu vực sẽ có được môi trường kinh doanh thân thiện với chi phí giao dịch rẻ hơn nhờ vào sự hài hòa giữa các quy định hiện hành trong khuôn khổ các FTA khác nhau của ASEAN.

Nhiều thách thức cho Việt Nam

Về tác động ảnh hưởng, Báo cáo đề cập, quá trình hội nhập và thực thi các cam kết FTA cũng bộc lộ không ít điểm yếu cũng như thách thức cho Việt Nam.

Cụ thể, thương mại của Việt Nam tập trung chủ yếu vào một số đối tác thương mại lớn cũng như số ít sản phẩm trọng yếu, do đó dễ bị tổn thương hơn trước những thay đổi cung cầu của những thị trường này.

“Vấn đề trở nên khó khăn hơn khi cơ cấu thương mại của Việt Nam khá tương đồng với các nước RCEP, song chất lượng và hàm lượng giá trị gia tăng của hầu hết sản phẩm còn khiêm tốn. Vì vậy, khi cấu trúc RCEP cho phép các nước tự do hóa thương mại với các đối thủ cạnh tranh của Việt Nam thì sức ép cạnh tranh sẽ gia tăng đáng kể," ông nói.

"Hiện, đầu vào sản xuất của Việt Nam phụ thuộc lớn từ nhập khẩu, trong khi khả năng cải thiện vị trí trong chuỗi giá trị khu vực còn hạn chế cũng như mức độ tham gia cung cấp thương mại dịch vụ toàn cầu rất khiêm tốn,” ông Dương phân tích

Trước những thực tế đó, nhóm nghiên cứu cho rằng, với bối cảnh hội nhập sâu rộng với các FTA chất lượng cao (trong đó có RCEP)​, Việt Nam phải tận dụng những cơ hội và khắc phục thách thức. Đây là yêu cầu quan trọng nhằm thúc đẩy thương mại đầu tư, tập trung vào nhập khẩu công nghệ tiên tiến để nâng cao năng lực sản xuất và thúc đẩy tái cấu trúc nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng.

“Nền tảng cho những định hướng này là nỗ lực nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm trong nước, doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế về khả năng tham gia sâu rộng vào các chuỗi giá trị năng động của khu vực RCEP. Trong quá trình này, chiến lược phát triển tập trung đầu tư các sản phẩm mũi nhọn cũng như tận dụng cơ hội hợp tác phát triển cùng đối tác các nước RCEP là rất quan trọng,” khuyến nghị từ Báo cáo./.