Ảnh minh họa. (Nguồn: TTXVN)

Ngày 3/7, Ngân hàng HSBC Việt Nam đã công bố bản báo cáo triển vọng thị trường Việt Nam, ngân hàng này đã hoan nghênh quyết định về việc bỏ giới hạn sở hữu nước ngoài đối với các công ty đại chúng thuộc một số ngành nghề.

Hoan nghênh quyết định tháo bỏ trần sở hữu nước ngoài

Các chuyên gia của HSBC cho rằng, vào ngày 29/6, cùng ngày với việc Tổng thống Obama ký ban hành Quyền xúc tiến thương mại TPA thì Chính phủ Việt Nam cũng đã ban hành Nghị định 60 cho phép tháo bỏ trần sở hữu nước ngoài (room) 49% đối với nhiều lĩnh vực từ ngày 1/9, ngoại trừ một số ngành kinh doanh có điều kiện. Những lĩnh vực trọng yếu như ngân hàng vẫn sẽ duy trì sở hữu nước ngoài ở mức trần 30%.

Theo các chuyên gia HSBC, Nghị định 60 mới được ban hành là một động thái tích cực của Việt Nam, nhưng cho rằng việc tiếp tục bảo hộ các ngành quan trọng cho thấy các hoạt động cải cách sẽ còn chậm chạp.

“Chúng tôi tin rằng bản thân nghị định này là một bước đi đúng hướng, nhưng việc vẫn còn thiếu các chi tiết cụ thể cũng như việc duy trì trần sở hữu đối với lĩnh vực ngân hàng cho thấy tiến độ cải cách vẫn còn diễn ra khá chậm,” HSBC viết trong bản báo cáo.

Báo cáo của HSBC chỉ ra, sàn giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HSX) có mức vốn hoá thị trường khoảng 49 tỷ USD và sàn chứng khoán Hà Nội (HNX) ở mức 6 tỷ USD, tổng cộng là 55 tỷ USD.

Ở sàn HSX, các ngân hàng có tỷ lệ sở hữu nước ngoài ở mức trần 30% hiện đang chiếm 23%. Điều này có nghĩa rằng lĩnh vực được lợi khi có tự do hoá thêm nữa để nâng cao quản trị doanh nghiệp và hiệu quả hoạt động là không giới hạn.

Ngoài ra, các lĩnh vực được áp dụng sở hữu trần 49% có thể sẽ không có khả năng bán cho khối nước ngoài khi Nhà nước đang nắm giữ gần như 100% kiểm soát (như mã BID và GAS). Ở sàn HSX, các doanh nghiệp có chủ sở hữu nhà nước hơn 50% đang chiếm 36% tổng nguồn vốn hoá thị trường.

“Chúng tôi tin rằng Việt Nam đang dần dần tự do hóa nền kinh tế. Điều này có nghĩa là Việt Nam không thể thực hiện điều đó trong một sớm một chiều. Cho dù là những nỗ lực nhằm cổ phần hoá các doanh nghiệp có vốn Nhà nước hay việc tự do hoá cổ phần công đối với khối ngoại, nhà nước cần lưu ý đến các chi tiết luật cũng như việc thi hành,” các chuyên gia HSBC khuyến nghị.

Ảnh minh họa. (Nguồn: TTXVN)

Chỉ số kinh tế lạc quan hơn

Cũng theo báo cáo của HSBC, với tất cả những bất ổn đang diễn ra trên thế giới, Việt Nam dường như đang đứng ngoài với các dòng tin tức và chỉ số kinh tế lạc quan hơn. Bất chấp những lực trì kéo, hoạt động xuất khẩu trong tháng Sáu đã tăng 18% so với năm ngoái và đưa mức tăng trưởng từ đầu năm đến nay đạt gần 10%.

Chỉ số PMI cũng tích cực không kém với mức tăng trưởng mạnh trong quý 2. Trong khi kết quả khảo sát PMI tháng Sáu đã giảm từ mức 54,8 điểm xuống còn 52,2 điểm, chỉ số hàng đầu - đơn đặt hàng mới trừ đi hàng tồn kho - đã tăng mạnh cho thấy sản lượng sẽ tiếp tục tăng trong những tháng sắp tới. Tăng trưởng tín dụng cũng đã tăng 17% so với năm ngoái nhờ vào nhu cầu đang dần cải thiện.

Triển vọng kinh tế Việt Nam thêm phần sáng sủa khi cánh cửa hội nhập ngày càng mở rộng. Ngày 29/6 vừa qua, Tổng thống Mỹ Obama đã ký ban hành luật về Quyền xúc tiến thương mại (TPA) cho thấy các cuộc đàm phán đối với Hiệp định kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) có thể sẽ kết thúc trong những tháng tới. Đối với Việt Nam, đây là một tín hiệu tích cực khi trước giờ vẫn chưa ký kết hiệp định thương mại tự do với Mỹ - thị trường xuất khẩu lớn nhất.

"Chúng tôi tin hiệp định TPP sẽ rất có lợi đối với Việt Nam. Việt Nam là quốc gia có nguồn lao động chi phí rẻ dồi dào và xu hướng này sẽ còn tiếp tục trong hai thập kỷ tới. Năng suất lao động của Việt Nam dù đang ở mức thấp nhất trong khu vực nhưng lại có tốc độc tăng trưởng nhanh nhờ vào khu vực đầu tư nước ngoài hoạt động hiệu quả hơn. Chúng tôi kỳ vọng tăng trưởng GDP sẽ tăng nhanh trong vài năm tới," các chuyên gia HSBC ​nhận định.

Bên cạnh đó, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) rất mạnh mẽ và bền vững. Ở khu vực châu Á đang nổi, Việt Nam chiếm thị phần FDI so với GDP cao nhất, hỗ trợ cho dòng vốn của mình nằm trong những nước có tính bền vững nhất. Các doanh nghiệp nước ngoài chủ yếu tham gia đầu tư ở các lĩnh vực “màu mỡ” trong khu vực sản xuất để tận dụng lợi thế về chi phí lao động tương đối, đặc biệt là đối với các ngành cần nhiều lao động.

Mặc dù vậy, các chuyên gia HSBC cũng thừa nhận, các phân tích cho thấy mô hình tăng trưởng hiện tại của Việt Nam không có tính bền vững, đặc biệt là trong trung hạn khi nguồn cung lao động giá rẻ dư thừa sẽ biến mất và chi phí lương giá rẻ sẽ không còn.

Nguyên nhân chính nằm ở việc quản trị nguồn lực, đặc biệt là phân bổ nguồn vốn. Khối doanh nghiệp Nhà nước mặc dù hoạt động không hiệu quả nhưng vẫn được phân bổ nguồn vốn khá lớn. Mặc dù tỷ lệ giảm liên tục từ đầu những năm 2000 thì phần chia cho khối này vẫn luôn là khoảng 40%. Trong khi đó tỷ lệ sản lượng của khối quốc doanh đã giảm đều, với phần tăng tới từ khối nước ngoài và tư nhân. Điều này về cơ bản có ý nghĩa là trong khi khối quốc doanh nắm giữ một phần đáng kể về đầu tư từ nhà nước thì sản lượng sinh ra ít hơn trong suốt thời gian qua.

Kết luận báo cáo, nhóm nghiên cứu của HSBC cho rằng đóng góp lớn nhất cho tăng trưởng của Việt Nam trong những năm tới sẽ là thương mại nhờ vào các thoả thuận quan trọng như TPP và nguồn lực chi phí lao động. Tuy nhiên, nền kinh tế cũng tồn tại nguy cơ xuất phát từ chính nội tại khi việc phân bổ các nguồn lực thiếu hiệu quả sẽ khiến cho năng suất suy yếu dần và khiến Việt Nam rơi vào cái bẫy thu nhập trung bình thấp.

"Kinh nghiệm từ các quốc gia khác cho thấy thoát ra khỏi điều này là khó có thể và đòi hỏi những nỗ lực tích cực hơn để thúc đẩy đầu tư hiệu quả, cho dù ở đầu tư cơ sở hạ tầng phần cứng hay mềm," chuyên gia HSBC đưa ra khuyến cáo./.