(Ảnh minh họa: Thanh Long/TTXVN)

Ngành điện tử đóng góp lớn cho xuất khẩu của Việt Nam, được đánh giá là ngành công nghiệp chiếm tỷ lệ lao động cao với hơn 500.000 lao động. Tuy nhiên, đa số người lao động Việt Nam trong ngành điện tử là lao động kỹ năng thấp, lắp ráp hàng loạt và tham gia vào chuỗi cung ứng giá trị thấp. Đó là thực trạng, mặt trái của ngành công nghiệp điện tử Việt Nam.

Đây là thông tin được được đưa ra tại đối thoại chính sách về “cải thiện số lượng và chất lượng việc làm thông qua các thực hành lao động có trách nhiệm trong ngành điện tử tại Việt Nam” do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) tổ chức ngày 29/9, tại Hà Nội.

Nghiên cứu của ILO cũng chỉ ra rằng 99 trong số 100 doanh nghiệp điện tử lớn nhất Việt Nam hiện nay đều là doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), chỉ có một doanh nghiệp nhà nước của Việt Nam. Chiếm đa số trong 20 doanh nghiệp lớn nhất là doanh nghiệp Nhật Bản, sau đó là các doanh nghiệp Hàn Quốc. 20 doanh nghiệp lớn nhất này sử dụng một nửa tổng số lao động trong ngành.

Chủ tịch VCCI Vũ Tiến Lộc cho biết: “Mặc dù ngành điện tử là một biểu tượng cho sự hội nhập, các doanh nghiệp nội địa Việt Nam gần như đứng ngoài chuỗi cung ứng đó. Các doanh nghiệp có lẽ chỉ cung cấp được thùng carton, bao bì, đóng gói.”

Mặt khác, theo ông Rene Robert, chuyên gia ILO Bangkok lao động trong ngành điện tử là lao động kỹ năng thấp, lắp ráp hàng loạt. Khoảng 80% người lao động của ngành công nghiệp này hầu hết là lao động nữ làm việc trong các dây chuyền lắp ráp vốn không mang lại nhiều giá trị gia tăng cho sản phẩm. Phụ nữ cũng hầu như không giữ các vị trí kỹ thuật hay quản lý. Các vị trí quản lý cấp cao trong ngành đều do người nước ngoài nắm giữ.

Nhìn chung, điều kiện lao động tại các doanh nghiệp tham gia vào nghiên cứu của ILO đều khá tốt. Tuy nhiên, các thách thức về tuân thủ luật lao động vẫn còn tồn tại như: Vi phạm thời gian làm thêm giờ (vượt quá giới hạn 300 giờ/năm), một số vấn đề về an toàn lao động và đóng bảo hiểm xã hội. Ngoài ra, đối thoại xã hội trong ngành vẫn còn yếu và có thể được cải thiện tốt hơn.

Những năm gần đây, số lượng việc làm trong ngành này đã tăng nhanh. Tổng số lao động trong ngành điện tử đã tăng lên 7 lần trong vòng 8 năm, từ 46.000 lao động vào năm 2005 đến hơn 327.000 vào năm 2013.

Sự hội nhập kinh tế ngày càng sâu sắc của Việt Nam thông qua Hiệp ước Đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) và các hiệp định thương mại tự do (FTA) khác mở ra các cơ hội việc làm mới cho ngành điện tử. Nhưng những cơ hội này chỉ có thể nắm bắt được nếu Việt Nam bắt tay đổi mới toàn diện luật lao động, các thể chế và các thực hành quan hệ lao động theo Tuyên bố của ILO về những nguyên tắc và quyền lao động cơ bản.

Tiến sỹ Chang-Hee Lee, Giám đốc ILO Việt Nam cho rằng: “Việc xây dựng những liên kết bền vững hơn giữa các doanh nghiệp đa quốc gia và các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam sẽ góp phần đảm bảo một lộ trình phát triển kinh tế và công nghiệp hóa bền vững hơn,các doanh nghiệp nội địa sẽ có mặt nhiều hơn trong chuỗi giá trị gia tăng cao.”

“Những kết quả hai bên cùng có lợi mang lại tăng trưởng toàn diện, phát triển bền vững cũng như việc làm bền vững cho người lao động. Điều này sẽ được hiện thực hóa khi khung pháp lý tạo nên một môi trường chính sách thuận lợi và những nỗ lực hợp tác của tất cả các bên,” ông Chang-Hee Lee nhấn mạnh.

Mặc dù cho tới nay, Việt Nam đã hội nhập thành công vào chuỗi giá trị ngành điện tử toàn cầu nhưng ngành công nghiệp này vẫn đang gặp phải những thách thức lớn như: Làm sao để cải thiện điều kiện lao động, nắm bắt được công nghệ và kiến thức, nâng cao kỹ năng tay nghề cho người lao động và hỗ trợ các doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào thị trường toàn cầu./.