Hàn Quốc ngày nay là nước công nghiệp phát triển mạnh nhưng vẫn giữ được nhiều nét đẹp Á Đông riêng của dân tộc Hàn. Một trong những nét đẹp đặc sắc đó là văn hóa Tết, đặc biệt là văn hóa Tết Âm lịch cổ truyền.

Người Hàn Quốc hiện dùng cả hai thứ lịch là dương lịch và âm lịch nên họ vui đón cả hai Tết: Tết dương lịch và Tết Âm lịch cổ truyền.

Tết Dương lịch:

Hàn Quốc cũng giống như các nước phương Tây, Tết dương lịch được tính từ thời khắc giao thừa giữa đêm 31/12 năm cũ dương lịch bước sang những giây phút đầu tiên của sáng ngày 1/1 năm mới dương lịch.

Tết dương lịch là một ngày đại lễ và được mọi người ưa chuộng, nhất là giới trẻ. Tuy nhiên, Tết dương lịch không dài ngày, người ta thường chỉ có những hoạt động lễ hội và vui chơi vào hai ngày đầu năm, đến ngày mùng 3 mọi người lại tiếp tục các công việc thường ngày của một năm mới.


Tết Âm lịch cổ truyền:

Tết Âm lịch cổ truyền của Hàn Quốc là tết chính và là đại lễ long trọng nhất trong năm âm lịch được tính từ thời khắc giao thừa của năm cũ âm lịch.

Từ thời Tam Quốc (trước công nguyên), những người nông dân đã có thói quen dùng một loại lịch dựa trên vòng quay của Mặt Trăng quanh Trái Đất. Một tháng có 29 hay 30 ngày và có 12 tháng trong một năm. Tuy nhiên cộng lại thì có 354 ngày trong một năm so với 365 ngày theo dương lịch.

Để bù lại sự chênh lệch 11 ngày này, cứ 33 tháng lại có một tháng nhuận 30 ngày. Vì nó là sự lặp lại của tháng trước, tháng nhuận được coi là sự may mắn, không có những ngày “xui.”

Lễ cưới và các lễ quan trọng khác thường được chọn vào thời gian này. Mặc dù dương lịch của phương Tây đã được chính thức dùng từ thế kỷ 19 nhưng đa số người Hàn ngày nay vẫn tính những ngày quan trọng của họ bằng âm lịch và họ vui đón Tết âm lịch long trọng hơn nhiều so với Tết dương lịch vì đó mới thực sự là Tết cổ truyền của dân tộc Hàn.

Một số phong tục, tập quán trong dịp Tết Âm lịch cổ truyền Hàn Quốc:

Tết Âm lịch cổ truyền của người Hàn Quốc theo tiếng Hàn là Seol - là đại lễ quan trọng nhất trong năm. Vào ngày 30 Tết, các gia đình đều đã lo dọn vệ sinh sạch sẽ nhà cửa. Buổi tối trước giao thừa, họ thường tắm bằng nước nóng để tẩy trần. Các thanh tre được đốt trong nhà lúc giao thừa để xua đuổi tà ma vì tục truyền do tiếng nổ của các thanh tre sẽ làm cho ma quỷ khiếp sợ bỏ chạy.

Đêm giao thừa không ai ngủ cả, vì theo truyền thuyết nếu ngủ thì sáng hôm sau sẽ bị bạc trắng cả lông mi và đầu óc kém minh mẫn khi thức dậy. Ngày mùng Một có ý nghĩa rất quan trọng vì đó là ngày đầu tiên của một năm mới. Mọi người đều mặc quần áo cổ truyền, uống gui balli sool, tiến hành nghi lễ cúng Tổ tiên gọi là Chesa do người trưởng nam đứng ra thực hiện.

Đồ cúng cùng với rượu gạo được bày trên mặt bàn giữa nhà. Trên đó cũng đặt các bài vị tổ tiên viết trên giấy sớ sẽ đốt đi sau khi cúng. Chủ gia đình thắp hương, khấn mời Tổ tiên, cả nhà cùng bái lạy làm lễ.

Sau lễ Chesa là lễ Seba, con cái bái lạy cha mẹ, ông bà. Còn các cháu, sau khi làm động tác cúi đầu chào năm mới trước người lớn và chúc họ may mắn, chúng sẽ được người lớn thưởng tiền hoặc có khi là vàng, ngọc hay một món quà quý nào đó tuỳ thuộc vào tuổi, vị trí của chúng trong gia đình và đương nhiên là cả điều kiện, hoàn cảnh, quan niệm của từng gia đình nữa. Kết thúc, cả nhà quây quần cùng nhau thụ lộc những đồ ăn vừa cúng Tổ tiên.

Tiếp sau đó mọi người sẽ đi chúc tết hàng xóm, người thân, đi thăm mộ Tổ tiên và du xuân đến những nơi danh lam, thắng cảnh, hoặc thăm các vườn hoa, cây cảnh, viếng chùa ngày xuân. Họ thường đến những nơi đã được xây dựng từ các triều đại cũ theo triết lý “thiên địa nhân hoà đồng” của đạo Lão.

Với các trẻ em trong những ngày Tết Nguyên Đán còn là dịp chúng được thỏa sức tham gia vào các trò chơi truyền thống được tổ chức ở các nơi công cộng như các trò chơi như kéo co, thả diều, bập bênh và yut-nori, một loại trò chơi trên ván gỗ dùng gậy.

Theo quy định chung của Nhà nước, các công sở của Hàn Quốc cho người lao động nghỉ Tết từ ngày 29 (hoặc 30) của tháng 12 Âm lịch năm cũ cho đến hết ngày mùng 2 Tết. Tuy nhiên, không khí Tết còn kéo dài đến qua ngày trăng tròn đầu tiên trong năm được gọi là ngày Daeboreum mà ở Việt Nam, Trung Quốc... vẫn gọi là Tết Nguyên Tiêu (Rằm Tháng Giêng).

Nói về văn hóa Tết Nguyên Đán Hàn Quốc không thể không nhắc đến văn hóa ẩm thực trong mối quan hệ chặt chẽ với các nghi thức thờ cúng Thần, Phật và tổ tiên. Đồ ăn để cúng Thần, Phật, tổ tiên được các gia đình chuẩn bị từ trước Tết.

Vào đêm giao thừa, người Hàn phải hoàn tất các đồ ăn đã chế biến để đem đặt lên bàn thờ, có khi tới hơn 20 món, trong đó nhất thiết phải có món chính là ttok-kuk (là một loại phở nước được chế từ bò hay gà). Ngoài ra là cá khô, thịt bò khô, bánh bao hấp, hoa quả, rau, hồng khô và các loại bánh cổ truyền.

Thực đơn cho ngày Tết, nhất là trong ngày mùng Một phổ biến thường là món ttok-kuc (có nghĩa là “ăn” một năm khác). Các món ăn khác cũng hay dùng trong dịp Tết là bánh bao, bánh pindaettok (bánh tráng kếp đậu xanh) và sujonggwa (chè quế) hay shikhye, một loại rượu nấu bằng gạo.

Tuy nhiên, có một món không thể thiếu đối với các gia đình Hàn Quốc không chỉ dịp Tết mà cả quanh năm, đó là món cay kim chi.

Vào ngày Tết luôn có món gakkimchi, nghĩa là kim chi làm với lá cải xanh trộn với vừng trắng. Một món truyền thống cũng không thể thiếu vắng là chigae, được chế từ các loại thịt hoặc cá thu nấu mềm, người lớn tuổi rất thích; món thịt viên bulgogi, giới trẻ rất thích ăn cùng với nưóc chấm pa-jun chua ngọt. Ngoài ra còn có một món đặc biệt là bibim, tức cháo gạo nếp nấu với thịt bò và rau đậu.

Bên cạnh tính đa dạng ngày càng tăng của nhiều loại đồ uống hiện đại từ phương Tây du nhập vào như các loại rượu, bia, nước ngọt, càphê... ngày nay cũng như nhiều nước Á Đông khác, uống trà theo kiểu Hàn Quốc vẫn là thói quen văn hoá ẩm thực của người Hàn.

Một vài loại trà ngon có hương vị đặc biệt mà người Hàn hay dùng vào dịp Tết là trà camip ướp lá trái cây hồng, rất thơm; trà saenggang ướp gừng; trà kyepicha ướp quế; trà insam trộn với sâm, rất quý; đặc biệt nhất là trà omija chỉ có ở Hàn Quốc, có đủ cả năm vị ngọt, chua, mặn, cay và đắng.

Cũng giống như Việt Nam và nhiều nước Đông Á khác, trong những ngày Tết Nguyên Đán cổ truyền đã là dịp để các thành viên xa gia đình trở về đoàn tụ trong sự hòa thuận, yêu thương và mọi người đều trang phục đẹp, lịch sự, nói với nhau bằng những lời chúc tốt đẹp nhất.

Tùy theo mỗi quốc gia, dân tộc mà có những đặc sắc riêng trong văn hoá Tết, song nét đẹp chung bao trùm tất cả vẫn là tính chân, thiện, mỹ - một nét đẹp đậm tính nhân văn Á Đông./.