Tiễn Phó Tổng biên tập VNTTX Trần Thanh Xuân (người đội mũ) dẫn đầu đoàn phóng viên GP10 vào chiến trường miền Nam năm 1973. (Nguồn: TTXVN)

Ông Hoàng Đình Chiến, nguyên phóng viên khóa GP.10, ôn lại những kỷ niệm về người lãnh đạo kính yêu - nhà báo Trần Thanh Xuân, nguyên Phó Tổng giám đốc kiêm Phó Tổng biên tập VNTTX.

Trong cuốn sách: “GP.10 Bốn mươi năm một danh hiệu,” ông Ðỗ Phượng, nguyên Ủy viên Trung ương Ðảng, nguyên Tổng giám đốc TTXVN, nhớ lại: Thực hiện chủ trương của trên về việc gấp rút đào tạo một lớp phóng viên đáp ứng yêu cầu của chiến trường, phục vụ nhiệm vụ chiến lược giải phóng hoàn toàn miền Nam ngày càng tới gần, năm 1972, lãnh đạo VNTTX đã tuyển chọn 150 học viên, đưa vào đào tạo trong lớp phóng viên GP.10. Nhà báo Trần Thanh Xuân, Phó Tổng giám đốc VNTTX lúc đó được giao nhiệm vụ Hiệu trưởng, được ngầm hiểu sẽ là người cùng các học trò vào chiến trường “tham chiến.”

Nhà báo Trần Thanh Xuân (còn được gọi là ông Năm Xuân), quê Gò Công, vốn là một trí thức tên tuổi, từng du học Pháp, nghe theo lời kêu gọi của Bác Hồ trở về nước tham gia kháng chiến. Những năm công tác ở miền Bắc, trong ông luôn cháy bỏng nguyện ước được trở về sát cánh cùng đồng bào miền Nam thân thương. Nguyện vọng của ông được lãnh đạo VNTTX lúc ấy đề đạt lên Ban Bí thư và Tổng Bí thư Lê Duẩn. Nhưng Tổng Bí thư Lê Duẩn không đồng ý: 'Trung ương không cần anh Năm Xuân có mặt ở chiến trường vào thời điểm này. Anh sẽ giúp Ðảng nhiều hơn khi có mặt ở thành phố Sài Gòn giải phóng. Anh cần đủ sức khỏe để tập hợp lớp trí thức đã có quan hệ với gia đình anh chị.'

Nhà báo Trần Thanh Xuân (1919-1987). (Nguồn: TTXVN)

Ông Ðỗ Phượng bồi hồi nhớ lại: Trên xe về cơ quan, ông Trần Thanh Xuân nói với ông: 'Lãnh đạo cơ quan đã nhất trí cử tôi đi, mọi việc đã chuẩn bị chu đáo. Nếu không đi lúc này, đến giải phóng mới vào thì gặp ai cũng chẳng có bao ý nghĩa. Anh đừng nói lại ý kiến vừa rồi của anh Ba với mọi người, cứ coi như tôi đã chào anh Ba trước khi lên đường.'

Nhà báo Trần Thanh Xuân đã nói rất thiết tha: “Các anh đều biết tôi rời quê hương sang Pháp rồi về Việt Bắc, sau lại sang Pháp làm nhiệm vụ rồi trở về Hà Nội, chưa một lần trở về quê hương. Mấy năm nay, vì đường vào Nam phải đi bộ cả nửa năm trời, tôi tự lượng sức mình không chịu nổi, còn đi đường công khai sợ dễ bị lộ nên không dám đề nghị. Nay đã có thể đi ôtô nên đề nghị được trở về tham gia chiến đấu trong những năm cuối đời để giải phóng quê hương."

Trong hồi ức của nguyên Tổng Giám đốc Ðỗ Phượng: “Ai cũng tôn trọng và quý mến anh Trần Thanh Xuân cả về năng lực nghiệp vụ lẫn đạo đức nhưng sở dĩ không ai nghĩ đến việc cử anh vào chiến trường vì tuổi tác và sức khỏe của anh. Tuy nhiên, không ai nỡ nói lời không đồng tình với ước mơ cháy bỏng và chính đáng của anh. Ý chí và nghị lực của anh Năm Trần Thanh Xuân mãi mãi là biểu tượng đặc trưng cho đội quân thông tấn lên đường đầu năm 1973. Một ông già đau yếu cùng đoàn quân trai tráng tuổi đôi mươi ra chiến trường không phải là sự tương phản mà lại là hình ảnh đẹp của sự hòa hợp ý chí chiến đấu, của lòng yêu nước đặc trưng Việt Nam."

Chiếc commăngca được thiết kế đặc biệt và một lái xe thiện chiến dành riêng cho ông bà Năm Xuân lên đường. Bà Mai Thị Trình, người bạn đời của ông, là người Sài Gòn, từng cùng ông du học. Hiểu được ý nguyện nung nấu của bạn đời, bà tình nguyện xin trở về Nam cùng ông, để lại hai con chưa đến tuổi trưởng thành trên đất Bắc.

Hôm chia tay, ông ôm hôn từng lãnh đạo VNTTX và hai con thân yêu. Sau gần 8 tháng được bà Trình “chăm bẵm” và tự rèn luyện, sức khỏe của ông khá lên trông thấy, dù trong ngực ông chỉ một phần lá phổi còn làm việc. Trong bộ quần áo bà ba màu cỏ úa và chiếc khăn rằn, người trí thức ngót sáu mươi tuổi, đã từng sinh sống giữa Paris hoa lệ, bắt đầu cuộc hành quân trở về.

Trên đường Nam tiến, chiếc xe commăngca, tuy đã được gắn ghế có nệm mút nhưng vẫn lắm những cú xóc nảy người, toàn thân rung lắc. Ðêm ngủ võng giữa đại ngàn, gân cốt tưởng như nhão ra nhưng ông vẫn không một lời kêu ca. Vào đến cứ “R” Tây Ninh, ông tham gia ngay Ban lãnh đạo TTXGP và là thành viên Ban Tuyên huấn Trung ương Cục miền Nam. Ông bà cùng tham gia dựng lán lá Trung quân (phía dưới là căn hầm nửa chìm nửa nổi), cùng ăn cơm với mọi người ở bếp ăn tập thể (thi thoảng, bà nấu bồi dưỡng thêm cho ông chén chè đậu). Ông bà chan hòa với mọi người không phân biệt nhân viên, thủ trưởng.

Cuối năm 1974, như dự cảm được “điều gì đó” sắp xảy ra, sau khi bày binh bố trận khắp các phân xã miền Nam bằng một lực lượng phóng viên trẻ từ lớp GP.10, ông gọi tôi lên giao nhiệm vụ: Dẫn đầu một tổ phóng viên tin, ảnh, điện báo viên biệt phái sang Bộ Tư lệnh Miền để phản ánh nhanh, nhạy tình hình chiến sự toàn miền và trực tiếp tham gia các mũi tiến công của các binh đoàn chủ lực khi các chiến dịch mở màn. Nhờ chuyến biệt phái này, tôi đã có dịp tham gia chiến dịch giải phóng Phước Long và chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng Sài Gòn. Nhớ lại lúc giao nhiệm vụ, ông nhẹ nhàng căn dặn tôi như thể cha con về những điều hơn lẽ thiệt, cách đối nhân xử thế: 'Cháu phải làm sao xứng đáng là người ra đi từ miền Bắc xã hội chủ nghĩa.'

Gặp lại ông ngay ngày đầu Sài Gòn giải phóng tại trụ sở Việt tấn xã (cơ quan thông tấn của chế độ ngụy Sài Gòn), tôi đọc được niềm vui chan chứa trong mắt ông. Tôi hiểu rằng, với ông, niềm vui được nhân đôi. Ngoài niềm vui chung của cả dân tộc, ông còn niềm vui của một người con xa quê hương được trở về sau gần 30 năm xa cách./.