Thu hoạch càphê. (Ảnh: Lê Hữu Quyết/TTXVN)

Ngành càphê Việt Nam đã có những bước tiến vượt bậc, chỉ trong vòng 15 đến 20 năm, sản lượng càphê của cả nước tăng lên hàng trăm lần, mỗi năm xuất khẩu từ 1,3 đến 1,6 triệu tấn càphê nhân.

Việt Nam hiện là nước xuất khẩu càphê đứng hàng thứ hai trên thế giới, sau Bra​zil và là nước đứng đầu về xuất khẩu càphê vối.

Việt Nam là một trong những nước có năng suất càphê cao nhất thế giới, bình quân đạt từ 2,3 đến 2,5 tấn càphê nhân/ha, cao gấp 3 lần bình quân của thế giới.

Để đạt được những thành tựu trên, nhiều tiến bộ kỹ thuật đã được ứng dụng vào thực tiễn sản xuất, trong đó có những kỹ thuật độc đáo chỉ có ở Việt Nam như kỹ thuật trồng âm, tạo bồn để giữ nước tưới và chống xói mòn đất…

Áp dụng tiến bộ kỹ thuật là then chốt

Trong nghề trồng càphê, vấn đề tạo hình được xem như một biện pháp kỹ thuật bắt buộc với mục đích tạo cho cây càphê có bộ tán cân đối, khai thác triệt để không gian riêng có của mỗi cây, tạo sự cân bằng giữa sinh trưởng, ra hoa và đậu quả, đồng thời, ổn định được sản lượng của vườn cây.

Có hai hệ thống tạo hình càphê chính là tạo hình đa thân không hãm ngọn và tạo hình đơn thân, cây được hãm ngọn.

Do đặc thù riêng, nhất là vùng Tây Nguyên, phần lớn càphê vối ở các tỉnh Tây Nguyên được tạo hình đơn thân có hãm ngọn.

Đây là sáng tạo độc đáo của nghề trồng càphê ở Tây Nguyên vì tất cả diện tích càphê vối ở trên thế giới đều áp dụng kỹ thuật tạo hình đa thân do đặc điểm của loại cây này có ít cành thứ cấp.

Tuy ​nhiên, ở Tây Nguyên trong điều kiện có tưới nước vào mùa khô, cây càphê vối lại có khả năng phát sinh nhiều cành thứ cấp (cấp 2, cấp 3…) cho phép áp dụng có hiệu quả kỹ thuật tạo hình đơn thân.

Khi được tạo hình đơn thân, cây càphê được hãm ngọn ở độ cao khoảng 2 mét, tạo điều kiện thuận lợi cho việc chăm sóc, cắt cành, phòng trừ sâu bệnh, thu hoạch.

Ở Tây Nguyên, bắt đầu xuất hiện một số mô hình trồng cây che bóng, trồng xen cây lâu năm trong vườn càphê mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn gấp nhiều lần so với trồng thuần trên từng đơn vị diện tích và hiện nay, các mô hình này đang được nhân rộng.

Việc đa dạng hóa cây trồng còn giúp cho các nông hộ, doanh nghiệp sản xuất càphê tránh bớt những rủi ro về biến động giá cả, sâu bệnh hại…

Theo tiến sỹ Lê Ngọc Báu, Viện trưởng Viện Khoa học Kỹ thuật nông, lâm nghiệp Tây Nguyên, giống luôn là yếu tố kỹ thuật quan trọng hàng đầu, tạo ra bước đột phá trong việc tăng năng suất, phẩm chất cây trồng cũng như các đặc tính chống chịu sâu bệnh.

Từ năm 2000 trở về trước, hầu hết diện tích càphê của Việt Nam đều trồng bằng hạt, trong đó, phần lớn là người nông dân tự chọn giống là chính. Do trồng bằng hạt không qua quy trình chọn lọc, tỷ lệ cây cho năng suất thấp, hạt bé, bị nhiễm bệnh gỉ sắt trong vườn khá cao, trung bình từ 5 đến 10%.

Những năm gần đây, Viện Khoa học Kỹ thuật nông, lâm nghiệp Tây Nguyên đã lai tạo, tuyển chọn thành công 16 giống càphê mới phục vụ tốt yêu cầu phát triển càphê bền vững.

Các giống càphê mới này không những cho năng suất cao, đạt từ 4,5 đến 7 tấn càphê nhân/ha, kháng cao với bệnh gỉ sắt, mà còn có kích cỡ hạt được cải thiện​.

Hàng năm, Viện Khoa học Kỹ thuật nông lâm nghiệp Tây Nguyên đã cung ứng cho các nông hộ, các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh càphê trên 30 tấn hạt giống lai đa dòng, trên 1 triệu cây giống, 200.000 chồi ghép từ các giống chọn lọc để đáp ứng yêu cầu trồng mới hoặc trồng tái canh từ 20.000 ha trở lên bằng các giống càphê mới này.

Đi đôi với việc lai tạo thành công các loại giống mới, Viện Khoa học Kỹ thuật nông, lâm nghiệp Tây Nguyên đã có nhiều công trình nghiên cứu về phân bón cho cây càphê. Trên cơ sở đó, Viện đã khuyến cáo, hướng dẫn cho các nông hộ, các doanh nghiệp kỹ thuật bón phân cân đối dựa vào độ phì của đất và năng suất cây trồng đã mang lại hiệu quả kinh tế cao, tiết kiệm 10% chi phí phân bón.

Khác với các vùng chuyên canh càphê trên thế giới, mùa khô ở Tây Nguyên kéo dài từ 5 đến 6 tháng, bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, cây càphê sẽ không có sản phẩm cho thu hoạch nếu không được tưới nước.

Tưới nước đã trở thành biện pháp mang tính quyết định đến năng suất càphê ở Tây Nguyên và các nông hộ có khuynh hướng sử dụng lượng nước tưới quá cao so với nhu cầu của cây càphê.

Qua các nghiên cứu, Viện Khoa học Kỹ thuật nông, lâm nghiệp Tây Nguyên đã khuyến cáo các nông hộ, các doanh nghiệp chỉ cần tưới 390 lít nước/gốc, với chu kỳ 22 đến 24 ngày/lần tưới nếu chu kỳ tưới là 30 ngày, lượng nước tưới tương đương 530 lít/gốc vẫn đạt năng suất bình quân 3,5 tấn càphê nhân/ha, giảm gần 50% lượng nước tưới so với trước đây.

Viện còn hướng dẫn các nông hộ, các doanh nghiệp áp dụng phương pháp tưới gốc (tưới dí), tưới phun mưa và gần đây là triển khai kỹ thuật tưới tiết kiệm nước bằng hình thức tưới nhỏ giọt, hạn chế tưới tràn (vì hình thức tưới tràn gây nên xói nòn, rửa trôi dinh dưỡng, lây lan dịch bệnh…).

Ngành càphê cả nước bắt đầu nhân rộng việc sản xuất càphê có chứng nhận, xác nhận như 4C, UTZ Certified, Liên minh rừng mưa (Rainforest Alliance Certified) đáp ứng yêu cầu của người tiêu dùng ngày càng cao về chất lượng sản phẩm, về nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm càphê nhân, đồng thời, thu hoạch, chế biến theo đúng quy trình để góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm càphê nhân của Việt Nam.

Trồng tái canh cơ hội chuyển đổi giống càphê mới

Theo Đề án tái canh càphê ở các tỉnh Tây Nguyên, giai đoạn 2014-2020 là khoảng 120.000ha, trong đó, trồng tái canh 90.000ha và ghép cải tạo 30.000ha.

Theo quy trình tái canh càphê vối, Viện Khoa học Kỹ thuật nông, lâm nghiệp Tây Nguyên đã khuyến cáo các nông hộ, doanh nghiệp thực hiện các giải pháp kỹ thuật nghiêm ngặt từ khâu chặt bỏ càphê già cỗi hết chu kỳ kinh doanh đến khâu khai hoang, rà rễ, thu gom rễ nhằm loại bỏ nguồn dịch hại trên đồng ruộng, luân canh với các loại cây trồng khác ít nhất 2 năm sau khi nhổ bỏ vườn càphê già cỗi, sử dụng các giống mới càphê đã được công nhận để đưa vào trồng.

Theo ​tiến sỹ Lê Ngọc Báu, cho đến nay có thể khẳng định, nếu tuân thủ quy trình, phần lớn diện tích càphê tái canh đều thành công và có hiệu quả kinh tếcao, với năng suất bình quân 4 đến 5 tấn càphê nhân/ha, cao hơn vườn càphê già cỗi từ 1,5 đến 2 tấn càphê nhân/ha.

Trồng tái canh càphê được xác định là cơ hội để các nông hộ, các doanh nghiệp chuyển đổi giống mới và ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm góp phần tăng sức cạnh tranh của sản phẩm càphê trên thị trường thế giới.

Để phát triển bền vững ngành hàng càphê

Tiến sỹ Lê Ngọc Báu cho biết, ngành càphê Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, với sản lượng cao, chiếm khoảng 18% thị phần trên thế giới, năng suất càphê Việt Nam cao nhất thế giới (gấp 3 lần năng suất bình quân thế giới), góp phần hạ giá thành sản phẩm và có sức cạnh tranh cao.

Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu phát triển bền vững ngành càphê, Việt Nam cần tổ chức lại sản xuất theo hướng liên kết các nông hộ riêng lẻ và liên kết giữa người sản xuất với các doanh nghiệp.

Thực tế, liên kết giữa các nông hộ riêng lẻ để tạo điều kiện cho người sản xuất tiếp cận dễ dàng hơn với tín dụng, tiến bộ kỹ thuật và tiết kiệm chi phí đầu vào, nhất là việc bảo vệ sản phẩm vào mùa thu hoạch.

Chỉ có liên kết giữa các nông hộ sản xuất càphê nhỏ lẻ mới bảo vệ được sản phẩm trên đồng ruộng, góp phần tạo điều kiện để cải thiện một cách cơ bản và nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm càphê trên thị trường thế giới.

Các địa phương, các ngành chức năng đổi mới, tăng cường hoạt động khuyến nông, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, nhất là xây dựng cơ chế chính sách phù hợp để khuyến khích doanh nghiệp tham gia hoạt động khuyến nông và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật để gia tăng nguồn lực.

Các địa phương vùng trong điểm càphê của cả nước tiếp tục mở rộng các chương trình sản xuất càphê bền vững có xác nhận, chứng nhận, đồng thời, quản lý có hiệu quả giống càphê nhằm phục vụ tốt yêu cầu chương trình tái canh góp phần phát triển bền vững ngành càphê Việt Nam./.