Trong 5 tháng đầu năm 2012, An Giang đã xuất khẩu 57.000 tấn cá tra sản phẩm, đạt 165,3 triệu USD, tăng 14% về số lượng và tăng 22% về trị giá so cùng kỳ năm 2011. Tuy nhiên, hoạt động nuôi và chế biến cá tra xuất khẩu tỉnh An Giang đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, có khả năng không đạt được chỉ tiêu xuất khẩu 165.000 tấn sản phẩm, với kim ngạch 465 triệu USD.

Khó khăn về vốn, nguyên liệu

Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh An Giang, hiện toàn tỉnh có 960ha diện tích mặt nước nuôi cá tra với tổng sản lượng khoảng 227.000 tấn, trong đó có 274ha thuộc vùng nguyên liệu của các doanh nghiệp chủ động, tương ứng khoảng 82.200 tấn nguyên liệu. Diện tích nuôi còn lại nằm rải rác ở các nơi, dẫn tới tình trạng nguồn nguyên liệu thiếu ổn định về chất lượng, cộng với tình hình giá cả bấp bênh, người nuôi thiếu vốn sản xuất, dễ bị treo ao, dẫn đến thiếu nguyên liệu cho chế biến, đình trệ sản xuất.

Mặt khác, nhiều hộ nuôi cá và doanh nghiệp cho rằng con giống hiện nay trên thị trường chưa đảm bảo về số lượng, chất lượng, tỷ lệ hao hụt trong quá trình nuôi từ cá giống đến cá thương phẩm lên đến 40%, làm cho chi phí nuôi tăng cao, người nuôi không có lãi.

Qua khảo sát phân loại, tỉnh An Giang hiện có 4 nhóm doanh nghiệp gồm: nhóm đang hoạt động tốt chiếm 15,3%; nhóm hoạt động khá chiếm 15,38%; nhóm hoạt động trung bình và có nguy cơ chiếm 38,46%; nhóm doanh nghiệp có nguy cơ ngừng sản xuất chiếm 30,77%.

Nguyên nhân làm cho nhóm doanh nghiệp trung bình và nhóm có nguy cơ ngừng sản xuất chiếm tỷ trọng khá lớn, đến 69,23% là do thiếu hụt nguồn vốn. Hầu hết các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu cá tra của tỉnh An Giang đều có mức vay lớn trên tổng vốn đầu tư, trong điều kiện lãi suất vay tăng cao (chu kỳ thời gian nuôi đủ chuẩn đưa vào chế biến xuất khẩu là từ 5-6 tháng).

Giá cá tra nguyên liệu ở An Giang liên tục giảm trong nhiều tuần qua, dao động từ 22.000-23.300 đồng/kg, trong khi giá thành sản phẩm cá tra hiện ở mức 24.366 đồng/kg.

Với mức giá này, người nuôi lỗ từ 1.000 đồng đến 2.033 đồng/kg, nhiều hộ nuôi tính đến việc treo ao do không có vốn để tái đầu tư, dẫn đến tình trạng thiếu nguyên liệu. Đây cũng là vấn đề đáng chú ý từ nay đến cuối năm, do vùng nuôi của các doanh nghiệp chưa lớn, với tổng diện tích là 274ha, chủ yếu của các doanh nghiệp chế biến lớn như Việt An, Cửu Long, Nam Việt, Tuấn Anh, Thuận An và Trường Giang.

Với mức đầu tư cho 1ha nuôi cá là từ 6-10 tỷ đồng, hiện nay các doanh nghiệp khó tiếp cận đủ nguồn vốn.

Xây dựng vùng nguyên liệu bền vững

Bà Mai Thị Ánh Tuyết, Giám đốc Sở Công Thương An Giang cho biết để tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu trên địa bàn, đối với nhóm doanh nghiệp đang hoạt động tốt, tỉnh đề nghị ngân hàng xem xét tăng hạn mức tín dụng vay, cơ cấu lại vốn vay chuyển từ ngắn hạn sang trung và dài hạn; tiếp tục miễn, giảm, giãn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp hoạt động kinh doanh xuất khẩu nông-thủy sản có sử dụng nhiều lao động.

Ngoài ra, tỉnh thực hiện liên kết giữa người nuôi cá, doanh nghiệp, người cung ứng thức ăn, ngân hàng; vận dụng nhiều mô hình như xây dựng cơ chế vay "tay ba" giữa nông dân-doanh nghiệp-ngân hàng, đảm bảo bằng hợp đồng tiêu thụ sản phẩm giữa nông dân và doanh nghiệp, như mô hình đang áp dụng tại Ngân hàng Ngoại thương chi nhánh An Giang đang thực hiện có hiệu quả.

Đối với nhóm doanh nghiệp trung bình và nhóm có nguy cơ ngừng sản xuất, cần thực hiện ngay việc đánh giá, phân loại về năng lực tài chính, lực lượng lao động hiện tại, định hướng tính thanh khoản của doanh nghiệp thông qua các hợp đồng xuất khẩu, thị trường. Các doanh nghiệp thuộc hai nhóm này cần triển khai tốt, phát huy triệt để thế mạnh của từng doanh nghiệp, cân nhắc tính khả thi trong định hướng đầu tư mới và nâng cao hiệu quả quản trị doanh nghiệp.

Để đảm bảo vùng nguyên liệu cá tra cung ứng cho chế biến, xuất khẩu, hai vấn đề cần chú trọng là con giống bảo đảm chất lượng và cân đối vùng nuôi cho phù hợp với thời vụ chế biến. Tỉnh An Giang khuyến cáo và tạo điều kiện để doanh nghiệp gắn kết chặt chẽ với Trung tâm giống của tỉnh, các cơ sở giống có xác nhận thông qua kế hoạch thả nuôi hàng năm.

Trên cơ sở này, các đơn vị sản xuất giống chất lượng có xác nhận chủ động cung ứng, đảm bảo số lượng. Tỉnh An Giang tiếp tục triển khai dự án xã hội hóa công tác giống, hỗ trợ các cơ sở sản xuất giống cá tra cải thiện di truyền đàn cá bố mẹ, xây dựng thương hiệu, nâng tầm trại giống đáp ứng nhu cầu thị trường.

Tỉnh rà soát lại quy hoạch vùng nuôi, giao đất tạo mặt bằng sạch quy mô từ 50-100ha mặt nước cho các nhà đầu tư, khuyến khích các doanh nghiệp phải có ít nhất từ 50-60% vùng nguyên liệu. Các doanh nghiệp khác chủ động liên kết với hộ nuôi để đảm bảo nguồn nguyên liệu với chất lượng tốt cho chế biến xuất khẩu.

An Giang cũng đang triển khai các chương trình xúc tiến thương mại, quảng bá hình ảnh con cá tra ở các thị trường tiêu thụ và thị trường tiềm năng, tiến tới xây dựng thương hiệu cho sản phẩm cá tra An Giang.

Tỉnh cũng phối hợp với các cơ quan Việt Nam ở nước ngoài để giới thiệu ấn phẩm hướng dẫn chế biến các món ăn từ sản phẩm cá tra, lợi ích của việc sử dụng con cá, quảng bá vùng nuôi... giúp người tiêu dùng có thông tin chính thống về sản phẩm cá tra Việt Nam./.