Xuất khẩu của Việt Nam ngày càng tăng cao. (Nguồn: TTXVN)

Trung tâm nghiên cứu của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) vừa đưa ra báo cáo Đánh giá thành tựu kinh tế-xã hội của Việt Nam giai đoạn 10 năm (2006-2015), trong đó báo cáo cũng tập trung đi sâu phân tích nhiều về giai đoạn 2010-2015.

Báo cáo nhận định, tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 5 năm 2011-2015 tiếp tục gặt hái được những thành tựu to lớn, quan trọng và đã được nhiều tổ chức quốc tế đánh giá cao.

Đạt nhiều thành tựu quan trọng

Theo các chuyên gia của BIDV, tiếp nối những kết quả đạt được trong giai đoạn 2006-2010, nhờ sự lãnh đạo của Đảng, Chính phủ, cả hệ thống chính trị và cộng đồng doanh nghiệp nên giai đoạn 2010-2015 tiếp tục đạt nhiều thành tự quan trọng.

Thứ nhất, lạm phát được kiểm soát, kinh tế vĩ mô dần ổn định, các cân đối lớn của nền kinh tế cơ bản được bảo đảm. Tốc độ tăng giá tiêu dùng (CPI) giảm mạnh, từ 18,13% năm 2011 xuống còn khoảng 2% vào năm 2015, thấp nhất trong 15 năm qua.

Các chuyên gia của BIDV cho biết, tăng trưởng kinh tế duy trì ở mức hợp lý, chất lượng tăng trưởng tiếp tục có bước cải thiện. Tăng trưởng GDP bình quân 5 năm đạt khoảng 5,9%/năm, trong đó nông nghiệp tăng 3,01%/năm, công nghiệp-xây dựng tăng 6,74%/năm, dịch vụ tăng 6,31%/năm. Quy mô nền kinh tế tiếp tục được mở rộng, GDP năm 2015 đạt khoảng 204 tỷ USD, gấp 2 lần so với năm 2010; GDP bình quân đầu người ước đạt 2.228 USD, tăng 1,9 lần so với năm 2010.

Mặt bằng lãi suất cũng giảm mạnh, năm 2015 chỉ bằng 40% so với năm 2011; dư nợ tín dụng tăng 17%, cao nhất kể từ năm 2011, chất lượng tín dụng từng bước được cải thiện. Kim ngạch xuất khẩu bình quân 5 năm 2011-2015 ước tăng 18%/năm, cao hơn mức 17,3%/năm trong giai đoạn 2006-2010; tỷ lệ nhập siêu (so với kim ngạch xuất khẩu) giảm từ 10,2% năm 2011 xuống còn 3,6% năm 2015.

Bên cạnh đó, vị thế của Việt Nam đã không ngừng được củng cố trên trường quốc tế, do hội nhập sâu rộng với thế giới. Tính đến năm 2015 có quan hệ thương mại và đầu tư với khoảng 230 quốc gia và vùng lãnh thổ, ký hơn 60 hiệp định kinh tế và thương mại song phương và thiết lập quan hệ đầu tư với trên 84 quốc gia và vùng lãnh thổ.

Nhiều quan hệ kinh tế đối ngoại chiến lược tiếp tục được củng cố và nâng lên tầm cao mới, như quan hệ tam giác phát triển Việt Nam-Lào-Campuchia; hợp tác Campuchia-Lào-Myanmar-Việt Nam; quan hệ “Đối tác chiến lược” với Liên Bang Nga, Hàn Quốc, Nhật Bản… Chính vì vậy, tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2015 ước đạt 165 tỷ USD, tăng 4,63 lần năm 2005, tốc độ tăng trưởng bình quân 19,2%/năm.

Về tái cơ cấu hệ thống các tổ chức tín dụng, đến tháng 9/2015, nợ xấu còn 2,9% so với mức 17,43% tháng 9/2012 và đã giảm 17 tổ chức tín dụng. Thanh khoản và an toàn hệ thống được bảo đảm; cung ứng vốn tốt hơn cho nền kinh tế và góp phần ổn định kinh tế vĩ mô. Quy mô thị trường chứng khoán tăng, mức vốn hoá thị trường cổ phiếu đạt khoảng 33% GDP và thị trường trái phiếu đạt khoảng 23% vào cuối năm 2015.

Điểm nổi bật và nhìn rõ nhất được các chuyên gia đánh giá ở giai đoạn này là chất lượng cơ sở hạ tầng được cải thiện một cách rõ rệt, đã làm thay đổi diện mạo của cả nước được bạn bè quốc tế đánh giá cao. Đến nay đã hoàn thành, đưa vào khai thác trên 300 công trình, dự án, trong đó có các công trình, dự án quan trọng như: đường cao tốc Nhật Tân-Nội Bài, Thành phố Hồ Chí Minh-Trung Lương, Thành phố Hồ Chí Minh-Long Thành-Dầu Giây, Hà Nội-Hải Phòng, đường Hồ Chí Minh đoạn Tây Nguyên-Thành phố Hồ Chí Minh dài 663km…

Điểm đặc biệt được các chuyên gia nhấn mạnh là trong giai đoạn này đã tạo việc làm cho trên 7,8 triệu người; tỷ lệ hộ nghèo giảm khoảng 2%/năm (các huyện nghèo giảm trên 4%/năm), đến cuối năm 2015 còn dưới 4,5%. Số người tham gia bảo hiểm xã hội tăng từ 9,7 triệu người năm 2011 lên 12 triệu người năm 2015.

Cộng đồng quốc tế đánh giá cao

Mặc dù còn không ít hạn chế nhưng những thành tựu kinh tế-xã hội to lớn của Việt Nam trong giai đoạn qua là không thẻ phủ nhận. Điều này được khẳng định qua các báo cáo đánh giá nhận định không chỉ của Đảng, Quốc hội mà còn của các tổ chức quốc tế trên thế giới.

Lãnh đạo Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) nhận định, tỷ lệ nghèo giảm đáng kể trong vòng 2 thập kỷ qua là thành công của các cuộc cải cách theo hướng thị trường và chính trị ổn định của Việt Nam. Trước tác động của suy thoái toàn cầu, Chính phủ Việt Nam đã thực hiện chương trình kích thích tài chính và tiền tệ, nhưng gần đây đã kịp thời chuyển đổi sang chính sách cân bằng hơn. Nhờ đó Việt Nam đã vượt qua suy thoái kinh tế toàn cầu 2009, đồng thời đạt mức tăng trưởng bình quân cao hơn so với các quốc gia tương đương trong khu vực trong giai đoạn 2011-2015.

Đồng quan điểm, lãnh đạo Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) cho rằng, nỗ lực ổn định kinh tế vĩ mô bắt đầu từ năm 2011 của Việt Nam đã mang lại kết quả rất khả quan. Qua sự điều hành của Chính phủ Việt Nam đã duy trì được ổn định kinh tế vĩ mô trong các năm qua, với mức lạm phát giảm xuống một con số trong thời gian khá dài. Tăng trưởng GDP hồi phục nhờ tăng trưởng xuất khẩu và dùng vốn FDI tăng mạnh.

Bên cạnh đó, Việt Nam đã đạt tiến bộ đáng kể trong cải cách cơ cấu kinh tế, đặc biệt trong ngành ngân hàng. Một số vụ sáp nhập ngân hàng đã được thực hiện và điều này làm giảm gánh nặng đối với Ngân hàng Nhà nước.

Mới đây, bà Victoria Kwakwa, Giám đốc Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam khẳng định rằng quy mô và tiềm lực của nền kinh tế không ngừng tăng lên trong giai đoạn 2006-2015, trong đó xuất khẩu vẫn là cỗ máy quan trọng thúc đẩy tăng trưởng.

Bà Victoria Kwakwa cũng cho biết, Việt Nam là một trong số ít các quốc gia hoàn thành trước thời hạn nhiều Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ của Liên hợp quốc (MDGs) và thực hiện mục tiêu kép của nhóm Ngân hàng Thế giới về xóa nghèo cùng cực (mức sống dưới 1,25 USD/ngày) vào năm 2030 và tăng cường chia sẻ thịnh vượng trong số 40% nhóm nghèo nhất tại các nước đang phát triển, với thành tích tăng trưởng nhanh mà không kéo theo bất bình đẳng lớn.

“Để đạt được những thành tựu trên, có phần đóng góp to lớn từ sự định hướng của Đảng, điều hành của Chính phủ và giám sát của Quốc hội, nhân dân; trong đó sự kịp thời, linh hoạt nhưng quyết liệt, sâu sát của Chính phủ đóng vai trò quyết định. Đây cũng là những nhận định đánh giá, nhận xét của cộng đồng quốc tế cũng như từ chính các cơ quan của Đảng, Quốc hội với Chính phủ, qua đó khích lệ lớn đối với Chính phủ trong việc tiếp tục đẩy mạnh triển khai các giải pháp thực hiện kế hoạch kinh tế-xã hội giai đoạn 2016-2020,” các chuyên gia nhận định./.