Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng trả lời chất vấn. (Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN)

Sáng 18/11, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã có Báo cáo Giải trình và trả lời chất vấn tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội Khóa XIII.

TTXVN trân trọng giới thiệu nội dung Báo cáo:

Thưa Quốc hội,
Thưa các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,
Thưa các đồng chí Lão thành cách mạng và các vị khách,
Thưa đồng chí, đồng bào,


Tại Phiên khai mạc, Chính phủ đã báo cáo Quốc hội Tình hình kinh tế-xã hội năm 2015 và 5 năm 2011-2015; phương hướng, nhiệm vụ 5 năm 2016-2020 và năm 2016, cùng nhiều báo cáo và tờ trình về các lĩnh vực của đất nước.

Quốc hội đã ban hành Nghị quyết về Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và Dự toán ngân sách nhà nước năm 2016, Nghị quyết về Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2016-2020.

Trong kỳ họp tới, trên cơ sở Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, Chính phủ sẽ báo cáo trình Quốc hội xem xét ban hành Nghị quyết về Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, ngân sách nhà nước và Kế hoạch đầu tư công trung hạn 5 năm 2016-2020.

Tại Kỳ họp này, Chính phủ đã gửi đến các vị Đại biểu Quốc hội 17 báo cáo về kết quả thực hiện các Nghị quyết giám sát chuyên đề và chất vấn trên các lĩnh vực từ đầu nhiệm kỳ đến nay.

Thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã báo cáo trước Quốc hội về những nội dung chủ yếu của các báo cáo nêu trên. Trong hơn 2 ngày qua, đã có 3 Phó Thủ tướng Chính phủ và 16 Bộ trưởng, Trưởng ngành trực tiếp giải trình và trả lời chất vấn trước Quốc hội.

Tại kỳ họp này, đến chiều hôm qua, các vị đại biểu Quốc hội cũng đã gửi 8 phiếu chất vấn với 17 câu hỏi và đã trực tiếp nêu 24 ý kiến chất vấn Thủ tướng Chính phủ. Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu các Thành viên Chính phủ theo chức năng, nhiệm vụ được giao trả lời bằng văn bản hoặc trực tiếp trả lời chất vấn của Đại biểu tại Hội trường.

Thay mặt Chính phủ, tôi xin báo cáo, giải trình một số vấn đề mà nhiều Đại biểu Quốc hội và đồng bào cử tri cả nước quan tâm, chất vấn.

1. Về tình hình kinh tế xã hội đến tháng 11 năm 2015

Đầu kỳ họp, Chính phủ đã báo cáo Quốc hội tình hình kinh tế xã hội 9 tháng và dự báo cả năm 2015. Trong tháng 10 và tháng 11, tình hình tiếp tục chuyển biến tích cực. Kinh tế vĩ mô ổn định; chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 11 tăng khoảng 0,1 - 0,2%, 11 tháng tăng 0,6 - 0,7%, ước cả năm tăng dưới 2%. Dư nợ tín dụng 11 tháng tăng 14,5 - 15%, cả năm tăng trên 17%. Mặt bằng lãi suất, tỷ giá và thị trường ngoại hối tiếp tục ổn định.

Xuất khẩu 11 tháng đạt khoảng 149 tỷ USD, tăng 8,5%. Vốn FDI thực hiện đạt khoảng 13,2 tỷ USD, tăng 17,9%. Vốn ODA giải ngân đạt khoảng 4,4 tỷ USD. Thu ngân sách nhà nước ước đạt 94,1% dự toán, tăng 8,3%; chi ngân sách đạt 88,4% dự toán, tăng 7,4% so với cùng kỳ.

Sản xuất công nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến, chế tạo tăng mạnh. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) 11 tháng tăng khoảng 9,6% (cùng kỳ tăng 7,5%), trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,4% (cùng kỳ tăng 8,6%). Khu vực nông nghiệp tuy tăng thấp hơn cùng kỳ nhưng vẫn tiếp tục phát triển.

Tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng khoảng 9,4%, loại trừ yếu tố giá còn tăng 8,3% (cùng kỳ năm 2014 tăng 7,8%). Khách quốc tế đến Việt Nam đạt khoảng 7 triệu lượt. Có gần 87 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng 27,9% về số doanh nghiệp và 36,7% về vốn đăng ký so với cùng kỳ; khoảng 18,5 nghìn doanh nghiệp hoạt động trở lại, tăng 33,7%.

An sinh xã hội tiếp tục được bảo đảm; tạo việc làm cho khoảng 1,5 triệu lao động, tăng 2,8% so với cùng kỳ. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội, môi trường, cải cách hành chính, quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội, đối ngoại, hội nhập quốc tế… tiếp tục chuyển biến tích cực.

Tuy còn không ít khó khăn hạn chế nhưng với những kết quả nêu trên, có cơ sở để chúng ta đạt được những mục tiêu, nhiệm vụ mà Chính phủ đã báo cáo trước Quốc hội. Chính phủ sẽ nỗ lực tập trung chỉ đạo để đạt mức cao nhất các chỉ tiêu mà Quốc hội đã đề ra cho năm 2015, trong đó phấn đấu tăng trưởng GDP đạt trên 6,5%. Và sẽ khẩn trương triển khai thực hiện có hiệu quả các Nghị quyết của Quốc hội về phát triển kinh tế - xã hội ngay từ ngày đầu, tháng đầu của năm 2016.

2. Về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta, đã được đề cập toàn diện trong Cương lĩnh, Hiến pháp, nhiều Nghị quyết của Đảng và trong dự thảo Báo cáo Chính trị, Báo cáo Kinh tế-xã hội trình Đại hội XII của Đảng.

Các Đại biểu Trương Trọng Nghĩa, Lê Như Tiến, Trịnh Ngọc Phương, Võ Kim Cự chất vấn đề nghị Thủ tướng nói rõ nội hàm kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và những giải pháp mà Chính phủ đã và đang thực hiện. Đây là vấn đề có phạm vi rất rộng. Tôi chỉ xin nhấn mạnh một số nội dung sau đây:

Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế thị trường hiện đại, với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ, hiệu quả theo quy luật kinh tế thị trường, phù hợp với hội nhập kinh tế quốc tế.

Đồng thời, Nhà nước sử dụng thể chế, luật pháp, các nguồn lực, công cụ điều tiết, cơ chế chính sách phân phối và phân phối lại để phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, từng bước nâng cao phúc lợi xã hội, chăm lo cải thiện đời sống mọi mặt của nhân dân, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo và bảo vệ môi trường.

Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; bảo đảm dân chủ, quyền con người, quyền công dân; lấy lợi ích quốc gia, dân tộc làm mục tiêu cao nhất. Phân định rõ chức năng của Nhà nước và chức năng của thị trường. Nhà nước tập trung tạo dựng môi trường và điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp được tự do, sáng tạo trong đầu tư kinh doanh và cạnh tranh bình đẳng, minh bạch trong kinh tế thị trường.

Đồng thời, phát huy cao nhất quyền làm chủ của nhân dân, tạo động lực mạnh mẽ và sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, huy động tối đa các nguồn lực để phát triển nhanh, bền vững và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

Để thực hiện nội dung nêu trên, Chính phủ đã và đang triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu sau đây:

- Tiếp tục hoàn thiện thể chế, luật pháp, cơ chế chính sách phù hợp với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tập trung triển khai thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, thi hành Hiến pháp và ban hành các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành[1], bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất, ổn định và khả thi. Đồng thời, rà soát, điều chỉnh các quy hoạch, kế hoạch phát triển cho phù hợp với yêu cầu của kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế[2].

- Phát triển đồng bộ, hiệu quả các loại thị trường hàng hóa, dịch vụ, tài chính, bất động sản, lao động, khoa học công nghệ… theo hướng hiện đại; chú trọng các loại thị trường mới như mua bán nợ, công cụ tài chính phái sinh, cho thuê tài sản… Chủ động mở cửa thị trường phù hợp với các cam kết quốc tế gắn với nâng cao năng suất lao động và sức mạnh nội sinh của nền kinh tế. Đa dạng hóa và nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ. Huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho sản xuất kinh doanh theo cơ chế thị trường.

- Bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, các cân đối lớn của nền kinh tế; kiểm soát tốt lạm phát; cơ cấu lại phù hợp thu chi ngân sách, kiểm soát chặt chẽ bội chi, quản lý hiệu quả nợ công, nợ xấu, bảo đảm an toàn tài chính, tiền tệ quốc gia. Tăng cường các nguồn lực cho đầu tư phát triển. Đẩy mạnh xuất khẩu, kiểm soát nhập khẩu phù hợp, phấn đấu cân bằng thương mại bền vững. Tăng cường quản lý thị trường, giá cả.

- Thực hiện nhất quán cơ chế giá thị trường đối với tất cả các loại hàng hoá, dịch vụ trong nền kinh tế. Riêng đối với những hàng hoá, dịch vụ công thiết yếu (bao gồm cả dịch vụ y tế, giáo dục), kiên định thực hiện cơ chế giá thị trường theo lộ trình phù hợp, tính đúng, tính đủ chi phí hợp lý, công khai, minh bạch các yếu tố hình thành giá; đồng thời hỗ trợ phù hợp cho các đối tượng chính sách, người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa.

- Đẩy mạnh cơ cấu lại, đổi mới quản trị đơn vị sự nghiệp công lập và thực hiện cơ chế thị trường đối với cung cấp các dịch vụ công. Chuyển các đơn vị sự nghiệp công lập sang hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp và chuyển từ cơ chế cấp phát sang đặt hàng, từ hỗ trợ cho các đơn vị cung ứng sang hỗ trợ trực tiếp cho các đối tượng chính sách được thụ hưởng. Huy động hiệu quả các nguồn lực xã hội và khuyến khích doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế tham gia cung cấp dịch vụ công. Bảo đảm cạnh tranh bình đẳng giữa đơn vị sự nghiệp công lập và ngoài công lập.

- Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý điều hành của các cơ quan nhà nước đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhà nước tập trung tạo dựng môi trường kinh doanh an toàn, thuận lợi và quản lý, điều hành nền kinh tế bằng pháp luật, quy hoạch, kế hoạch và các công cụ điều tiết phù hợp với kinh tế thị trường. Bảo vệ quyền sở hữu tài sản hợp pháp và quyền tự do kinh doanh của người dân, doanh nghiệp. Khuyến khích mọi ý tưởng sáng tạo, thúc đẩy đổi mới và phát triển. Kiểm soát tốt độc quyền kinh doanh. Đặt doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong cơ chế thị trường; phân định rõ nhiệm vụ sản xuất kinh doanh theo cơ chế thị trường và thực hiện nhiệm vụ do Nhà nước giao.

Tập trung phát triển hạ tầng kinh tế xã hội, nguồn nhân lực và tiềm lực khoa học công nghệ. Thực hiện tốt các chính sách phát triển văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục, giảm nghèo bền vững, quản lý tài nguyên, cải thiện môi trường, phòng chống thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu. Bảo đảm an ninh và trật tự an toàn xã hội.

Đẩy mạnh cải cách hành chính. Xây dựng nền hành chính hiện đại, chuyên nghiệp, năng động, trách nhiệm, phục vụ nhân dân. Nỗ lực xây dựng bộ máy nhà nước tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả với đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất, năng lực và tính chuyên nghiệp cao. Tập trung cải cách thủ tục hành chính, phục vụ tốt nhất người dân và doanh nghiệp, cải thiện mạnh môi trường đầu tư kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh.

- Phát huy hiệu quả vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các Đoàn thể nhân dân, của mọi người dân, doanh nghiệp, các hiệp hội, các tổ chức xã hội, xã hội nghề nghiệp… trong tham gia xây dựng, phản biện, giám sát thực hiện chính sách, pháp luật và bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của người dân trong kinh tế thị trường.
Toàn cảnh phiên chất vấn và trả lời chất vấn sáng 18/11. (Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN)

3. Về triển khai thực hiện Chương trình nghị sự 2030 của Liên hợp quốc vì sự Phát triển bền vững

Năm 2000, Hội nghị Thượng đỉnh của Liên hợp quốc đã ra Tuyên bố, xác lập 8 Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ. Là thành viên có trách nhiệm của Liên hợp quốc, trong 15 năm qua Việt Nam đã nỗ lực thực hiện và hoàn thành trước thời hạn nhiều mục tiêu, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao.

Tại phiên họp Đại hội đồng Liên hợp quốc tháng 9/2015, Việt Nam được đánh giá là một trong 6 quốc gia hoàn thành trước thời hạn và là điểm sáng về thực hiện Mục tiêu giảm nghèo, trong khi mục tiêu này vẫn còn là một thách thức lớn của toàn cầu (theo Chương trình phát triển của Liên hợp quốc (UNDP), hiện nay trên thế giới vẫn có 1,4 tỷ người đang phải sống trong nghèo cùng cực, trong đó hơn 900 triệu người phải chịu đói triền miên).

Chúng ta cũng đã hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dục tiểu học, thúc đẩy bình đẳng giới, giảm tỷ lệ tử vong bà mẹ và trẻ em; kiểm soát sốt rét và bệnh lao; đẩy lùi tỷ lệ lây lan HIV/AIDS; và đạt được nhiều tiến bộ về phổ cập tiếp cận các dịch vụ y tế, tăng cường sức khỏe bà mẹ và bảo đảm bền vững môi trường, thiết lập mối quan hệ toàn cầu vì sự phát triển.

Đạt được thành tựu nêu trên là sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị, của toàn dân và sự hỗ trợ quý báu của Chính phủ nhiều quốc gia và các cá nhân, tổ chức quốc tế. Đặc biệt là chúng ta đã kiên trì, nhất quán thực hiện quan điểm tăng trưởng kinh tế phải kết hợp hài hòa với phát triển văn hoá, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân trong từng bước, từng chính sách phát triển và luôn coi con người là trung tâm, là chủ thể, là mục tiêu của sự phát triển.

Tại Hội nghị Thượng đỉnh của Liên hợp quốc tháng 9/2015, Lãnh đạo 193 quốc gia, trong đó có Việt Nam, đã chính thức thông qua Chương trình nghị sự 2030 vì sự Phát triển bền vững.

Với kết quả đã đạt được và kinh nghiệm thực hiện Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDGs) trong những năm qua, Việt Nam đã đóng góp tích cực ngay từ đầu vào quá trình xây dựng các Mục tiêu Phát triển bền vững (SDGs) của Liên hợp quốc sau năm 2015. Chúng ta cũng đã tổ chức thành công Đại hội đồng Liên minh Nghị viện Thế giới lần thứ 132 (IPU-132) tại Thủ đô Hà Nội với chủ đề “Các mục tiêu phát triển bền vững: Biến lời nói thành hành động.”

Chương trình nghị sự 2030 có độ bao phủ chính sách phổ quát, rộng lớn, vì lợi ích của mọi người trên toàn thế giới, cho các thế hệ hôm nay và mai sau; bao gồm 17 mục tiêu, đó là: (1) Xóa nghèo dưới mọi hình thức và ở mọi nơi; (2) Xóa đói, bảo đảm an ninh lương thực, cải thiện dinh dưỡng và thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền vững; (3) Bảo đảm sức khỏe và sống khỏe mạnh cho mọi người;

(4) Bảo đảm chất lượng giáo dục, công bằng, toàn diện và cơ hội học tập suốt đời cho mọi người; (5) Bảo đảm bình đẳng giới; (6) Bảo đảm nước sạch và vệ sinh cho mọi người;

(7) Bảo đảm mọi người được sử dụng năng lượng sạch và phù hợp với khả năng chi trả; (8) Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững và việc làm phù hợp cho mọi người; (9) Xây dựng cơ sở hạ tầng, thúc đẩy phát triển công nghiệp bền vững và khuyến khích đổi mới sáng tạo;

(10) Giảm bất bình đẳng trong mỗi quốc gia và giữa các quốc gia; (11) Xây dựng các đô thị và cộng đồng dân cư đồng bộ, an toàn, bền vững và thân thiện; (12) Sản xuất, tiêu dùng có trách nhiệm và bền vững;

(13) Ứng phó và giảm nhẹ tác động của biến đổi khí hậu; (14) Bảo tồn và sử dụng bền vững đại dương, biển và tài nguyên biển; (15) Quản lý rừng bền vững, chống sa mạc hóa, ngăn chặn và đẩy lùi suy thoái tài nguyên đất, bảo tồn đa dạng sinh học;

(16) Thúc đẩy hòa bình, công lý, tăng cường thể chế quốc gia và toàn cầu; (17) Đổi mới và nâng cao hiệu quả quan hệ đối tác toàn cầu vì sự phát triển bền vững. 17 mục tiêu nêu trên được xác định cụ thể bằng 169 chỉ tiêu.

Những mục tiêu nêu trên phản ánh khát vọng chung của toàn nhân loại được sống trong một thế giới hòa bình, không có chiến tranh, không còn đói nghèo, phát triển xanh, môi trường sống trong sạch và bền vững. Đó cũng là khát vọng của nhân dân ta, phù hợp với mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam phát triển nhanh-bền vững, dân giầu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Liên hợp quốc đang tiếp tục thảo luận về phương thức thực hiện Chương trình nghị sự 2030 và triển khai xây dựng các hướng dẫn, hệ thống chỉ số theo dõi, giám sát; dự kiến đầu năm 2016 sẽ hoàn thành và cung cấp cho các nước thành viên.

Việt Nam sẽ phấn đấu thực hiện hiệu quả Chương trình nghị sự 2030. Đây vừa là mục tiêu, yêu cầu phát triển bền vững của đất nước, vừa là đóng góp thiết thực vào sự phát triển chung của toàn cầu.

Với tinh thần đó, Chính phủ sẽ xây dựng chương trình tổng thể cho giai đoạn 15 năm, kế hoạch hành động 5 năm và hàng năm, trong đó xác định những mục tiêu ưu tiên, những trọng tâm, trọng điểm theo một lộ trình phù hợp. Lồng ghép hiệu quả các mục tiêu phát triển bền vững này vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của từng ngành, từng địa phương. Tham khảo, vận dụng hệ thống chỉ số và các hướng dẫn của Liên hợp quốc để xác định chỉ tiêu phù hợp và tổ chức quản lý, giám sát, đánh giá kết quả thực hiện.

Cùng với việc phát huy nội lực, phải đẩy mạnh hợp tác và tranh thủ sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế. Đồng thời tạo sự đồng thuận và tích cực tham gia của toàn xã hội. Chúng ta sẽ vừa làm vừa rút kinh nghiệm để thực hiện ngày càng tốt hơn Chương trình nghị sự này của Liên hợp quốc, phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam.

Chương trình nghị sự 2030 của Liên hợp quốc vì sự Phát triển bền vững là vấn đề mới, có phạm vi rộng lớn, đề cập đến rất nhiều lĩnh vực và mang tính toàn cầu, được Quốc hội và đồng chí đồng bào cử tri cả nước rất quan tâm. Thủ tướng Chính phủ cũng đã nhận được chất vấn của các vị Đại biểu Trương Trọng Nghĩa, Hà Sỹ Đồng, Trịnh Ngọc Phương về vấn đề này.

4. Về giảm nghèo đa chiều

Giảm nghèo là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, là một mục tiêu của phát triển bền vững được nhân dân ta và cộng đồng quốc tế đồng tình ủng hộ. Để phù hợp với yêu cầu phát triển, chúng ta quyết định chuyển sang sử dụng phương pháp tiếp cận đo lường nghèo đa chiều.

Các đại biểu Hà Sỹ Đồng, Trần Ngọc Vinh, Trương Trọng Nghĩa chất vấn đề nghị Thủ tướng cho biết về nội dung giảm nghèo đa chiều và các giải pháp mà Chính phủ sẽ triển khai thực hiện. Tôi xin trình bày một số nội dung chủ yếu như sau:

Trong những năm qua, chúng ta đã triển khai đồng bộ, quyết liệt các giải pháp; tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 14,2% năm 2011 xuống còn dưới 4,5% năm 2015, riêng các huyện nghèo giảm từ 58,3% xuống còn khoảng 28%. Nhìn lại 20 năm qua, nước ta đã có khoảng 30 triệu người thoát nghèo. Đây là một thành tựu nổi bật của công cuộc đổi mới, được toàn xã hội và cộng đồng quốc tế đánh giá cao.

Việc xác định chuẩn nghèo đơn chiều là chỉ dựa vào thu nhập như đang thực hiện đã bộc lộ những hạn chế, chưa phản ánh được đầy đủ tình trạng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản; việc phân loại, đánh giá, xác định đối tượng nghèo và xây dựng các chính sách giảm nghèo thiếu tính tổng thể, toàn diện.

Để khắc phục những hạn chế nêu trên, nhiều tổ chức quốc tế (như UNDP, WB) thống nhất khuyến cáo và đến nay đã có hơn 30 quốc gia (trong đó có Trung Quốc, Mexico, Brazil, Columbia, Malaysia…) nghiên cứu và áp dụng phương pháp đo lường nghèo đa chiều - không chỉ sử dụng tiêu chí thu nhập mà còn sử dụng các tiêu chí về tiếp cận các nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu[3]. Đây cũng là phương pháp phù hợp với Chương trình nghị sự 2030 của Liên hợp quốc vì sự Phát triển bền vững.

Chính phủ đã trình và Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 76/2014/QH13 về đẩy mạnh thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững đến năm 2020, trong đó giao Chính phủ chỉ đạo xây dựng chuẩn nghèo mới theo phương pháp tiếp cận đa chiều nhằm bảo đảm mức sống tối thiểu và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Phương pháp tiếp cận này là cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết của Đảng và Hiến pháp năm 2013.

Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án tổng thể chuyển đổi phương pháp xác định hộ nghèo từ đơn chiều sang đa chiều, trong đó quy định chuẩn nghèo bao gồm cả tiêu chí thu nhập và các tiêu chí về tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản: y tế, giáo dục, nhà ở, thông tin, nước sạch và vệ sinh nông thôn[4]. Thủ tướng Chính phủ sẽ sớm ban hành chuẩn nghèo mới đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020.

Theo tính toán bước đầu, với chuẩn nghèo đa chiều, trong đó tiêu chí thu nhập là 700.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 900 nghìn đồng/người/tháng ở khu vực thành thị thì tỷ lệ hộ nghèo hiện nay khoảng 12%, tỷ lệ hộ cận nghèo khoảng 6% và dự kiến ngân sách để thực hiện các chính sách hỗ trợ đối tượng nghèo, cận nghèo năm 2016 tăng khoảng 15 nghìn tỷ đồng so với năm 2015[5].

Chính phủ sẽ chỉ đạo các Bộ ngành, địa phương rà soát, xác định số hộ nghèo, hộ cận nghèo theo chuẩn mới và chuẩn bị các điều kiện để thực hiện trong năm 2016 gắn với triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững 2016-2020 vừa được Quốc hội thông qua.

Đồng thời tiếp tục hoàn thiện và thực hiện hiệu quả các chính sách đặc thù đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và những địa bàn đặc biệt khó khăn, nhất là về đất sản xuất, đất ở, nhà ở, nước sạch, y tế, giáo dục, phát triển ngành nghề, khuyến nông, khuyến lâm…Ưu tiên đầu tư cơ sở hạ tầng và phát triển nguồn nhân lực cho huyện nghèo, xã nghèo. Tập trung triển khai thực hiện có hiệu quả chính sách bảo vệ và phát triển rừng gắn với giảm nghèo nhanh, bền vững trong đồng bào dân tộc thiểu số.

5. Về vấn đề lao động trong Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP)

Đây là vấn đề được đồng bào cử tri cả nước, nhất là người lao động rất quan tâm. Các Đại biểu Trương Trọng Nghĩa, Trần Ngọc Vinh, Võ Kim Cự đã chất vấn Thủ tướng về vấn đề này. Tôi xin trình bày những nội dung chủ yếu như sau:

Với cách tiếp cận người lao động là người trực tiếp làm ra các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ trong thương mại quốc tế nên trước hết họ phải được hưởng thành quả của quá trình này. Năm 1998 Tổ chức Lao động Quốc tế đã ra Tuyên bố về những nguyên tắc và quyền cơ bản trong lao động và đến năm 2008 tiếp tục thông qua Tuyên bố về thúc đẩy việc bảo đảm quyền lợi của người lao động trong quá trình toàn cầu hóa công bằng.

Đây cũng là cách tiếp cận của các Hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới và đang trở thành xu thế trên toàn cầu (nếu như vào thời điểm thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 1995 mới có 4 Hiệp định FTA có nội dung về lao động, thì đến tháng 01/2015 đã có 72 Hiệp định FTA quy định về nội dung này).

Việc đưa nội dung lao động vào các Hiệp định FTA thế hệ mới còn có mục đích bảo đảm môi trường cạnh tranh công bằng giữa các bên trong quan hệ thương mại, do khi một nước áp dụng tiêu chuẩn lao động thấp và người lao động không được bảo đảm quyền thương lượng với người sử dụng lao động về tiền lương và điều kiện làm việc thì sẽ có chi phí sản xuất thấp hơn nên có lợi thế cạnh tranh so với nước áp dụng tiêu chuẩn lao động cao và bảo đảm các quyền nêu trên của người lao động theo quy định của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) - một Tổ chức chuyên môn thuộc hệ thống của Liên hợp quốc với 186 nước thành viên, trong đó có cả 12 nước tham gia Hiệp định TPP.

Hiệp định TPP là một Hiệp định FTA thế hệ mới có quy định nội dung về lao động nhưng không đưa ra tiêu chuẩn riêng mà chỉ áp dụng theo các tiêu chuẩn về lao động đã được nêu trong Tuyên bố năm 1998 về Những nguyên tắc và quyền cơ bản trong lao động của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), thể hiện trong 8 Công ước cơ bản, bao gồm các nội dung: (1) Quyền tự do liên kết và thương lượng tập thể của người lao động và người sử dụng lao động (theo Công ước số 87 và số 98[6]); (2) Xóa bỏ lao động cưỡng bức và lao động bắt buộc (theo Công ước số 29 và số 105); (3) Cấm sử dụng lao động trẻ em, xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất (theo Công ước số 138 và số 182); (4) Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử về việc làm và nghề nghiệp (theo Công ước số 100 và số 111).

Việt Nam là thành viên của ILO từ năm 1992, đã phê chuẩn 5/8 Công ước cơ bản của ILO (bao gồm các Công ước số 29, 100, 111, 138 và 182) và đang chuẩn bị trình cơ quan có thẩm quyền phê chuẩn đối với 3 Công ước cơ bản còn lại (các Công ước số 87, 98 và 105). Nhưng theo Tuyên bố năm 1998 của ILO thì các nước thành viên dù đã phê chuẩn hay chưa phê chuẩn các Công ước cơ bản nêu trên đều có nghĩa vụ tôn trọng, thúc đẩy và thực hiện các tiêu chuẩn lao động được đề cập trong các Công ước đó. Như vậy, trên thực tế Việt Nam đã và đang thực hiện các quy định của ILO theo kế hoạch chủ động của mình.

Những nội dung chính về lao động trong Hiệp định TPP bao gồm:

- Đối với những nội dung liên quan đến xóa bỏ lao động cưỡng bức, lao động trẻ em, phân biệt đối xử trong lao động và quy định bảo đảm điều kiện lao động về lương tối thiểu, giờ làm việc, an toàn lao động thì hệ thống pháp luật của Việt Nam đã quy định đầy đủ và cơ bản là phù hợp với các tiêu chuẩn của ILO và cam kết trong Hiệp định TPP. Chúng ta đang thực hiện và sẽ tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật có liên quan đối với những nội dung này.

- Về quyền thành lập tổ chức đại diện của người lao động, theo Hiệp định TPP và cũng phù hợp với quy định của ILO, Việt Nam và tất cả các nước tham gia Hiệp định TPP phải tôn trọng và bảo đảm quyền của người lao động trong việc thành lập và gia nhập tổ chức của người lao động tại cơ sở doanh nghiệp. Tổ chức của người lao động tại cơ sở doanh nghiệp sau khi thành lập có thể lựa chọn gia nhập Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam hoặc đăng ký với Cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được chính thức hoạt động và sẽ chỉ được hoạt động sau khi được Cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp nhận đăng ký theo một quy trình minh bạch và được quy định cụ thể trong các văn bản quy phạm pháp luật.

Hiệp định TPP cũng như quy định của ILO đều khẳng định tất cả các tổ chức của người lao động phải tuân thủ Hiến pháp, pháp luật của nước sở tại và theo các tiêu chuẩn của ILO. Đồng thời phải hoạt động phù hợp với tôn chỉ, mục đích và phương thức hoạt động đã được đăng ký với Cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện quyền đại diện, bảo vệ cho các quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động tại doanh nghiệp nơi họ làm việc thông qua các hình thức: đối thoại, thương lượng tập thể, đình công và các hành động tập thể khác trong quan hệ lao động theo quy định của pháp luật.

Các tổ chức của người lao động không được phép tiến hành bất cứ hoạt động nào có khả năng xâm hại đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, cũng như không được tham gia bất cứ hoạt động nào ngoài tôn chỉ mục đích và Điều lệ hoạt động đã được đăng ký với Cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

- Hiệp định TPP cũng có các quy định bảo vệ tổ chức của người lao động để không bị người sử dụng lao động can thiệp và phân biệt đối xử nhằm vô hiệu hóa hoặc làm suy yếu khả năng đại diện, bảo vệ cho quyền và lợi ích của người lao động. Điều này cũng phù hợp với quy định của ILO.

- Theo cam kết trong Hiệp định TPP, chỉ riêng đối với Việt Nam là được có thời gian chuẩn bị là 5 năm kể từ ngày Hiệp định có hiệu lực (tức là khoảng 7 năm kể từ khi ký Hiệp định), các tổ chức của người lao động ở cấp cơ sở doanh nghiệp có thể gia nhập hoặc cùng nhau thành lập tổ chức của người lao động ở cấp cao hơn như cấp ngành, cấp vùng theo đúng trình tự đăng ký được pháp luật quy định một cách công khai, minh bạch. Tôn chỉ, mục đích, trình tự, thủ tục thành lập và phương thức hoạt động của các tổ chức của người lao động ở cấp cao hơn này cũng phải tuân thủ đầy đủ theo các quy định của pháp luật Việt Nam và không trái với các quy định của ILO.

Thời gian chuẩn bị này là để Việt Nam hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức bộ máy quản lý để bảo đảm tốt nhất quyền lợi cho người lao động. Việc đạt được một khoảng thời gian hợp lý nêu trên để chúng ta chuẩn bị là thể hiện thiện chí của các bên trong đàm phán và vị thế, uy tín của Việt Nam, nhất là trong việc thực thi nghiêm túc các cam kết quốc tế, trong đó có việc thực hiện tốt những quy định về lao động của ILO.

Sau khi Hiệp định TPP được cấp có thẩm quyền phê chuẩn, đối với nội dung về lao động trong Hiệp định, chúng ta sẽ nghiên cứu sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật (có thể là Nghị định của Chính phủ, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ) để thực thi nội dung về lao động trong Hiệp định, bảo đảm phù hợp với Hiến pháp, pháp luật của Việt Nam và quy định của ILO.

Như vậy, việc thực hiện các cam kết về lao động trong Hiệp định TPP cũng chính là việc tiếp tục thực hiện các quy định của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) mà Việt Nam là một thành viên. Và cũng không ảnh hưởng, không làm hạn chế địa vị pháp lý, vai trò, chức năng nhiệm vụ và tổ chức, hoạt động của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.

6. Các Đại biểu Nguyễn Anh Sơn, Trương Trọng Nghĩa, Lê Nam chất vấn Thủ tướng Chính phủ một số vấn đề về tranh chấp chủ quyền, diễn biến phức tạp trên biển Đông và quan hệ Việt Nam-Trung Quốc. Tôi xin trình bày một số ý kiến sau đây:

Theo chỉ đạo của Bộ Chính trị, Chính phủ đã nhiều lần báo cáo Quốc hội về các vấn đề này. Quan điểm, lập trường, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta là rõ ràng, nhất quán, cơ bản là phù hợp, đã đạt được nhiều kết quả nhưng cũng còn không ít khó khăn, thách thức. Chúng ta phải tiếp tục kiên định, kiên trì thực hiện sáng tạo, hiệu quả các chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta. Tôi xin không nhắc lại mà chỉ nhấn mạnh một số nội dung sau đây:

- Chúng ta chân thành, làm hết sức mình để tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi, cùng phát triển với Trung Quốc trên tất cả các lĩnh vực.

- Đồng thời, kiên quyết đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, lãnh thổ, biển đảo, lợi ích quốc gia theo đúng chủ trương, nghị quyết của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước ta. Cũng như Hiến chương Liên hợp quốc, luật pháp quốc tế, các cam kết khu vực, nhất là Công ước Luật Biển năm 1982 của Liên hợp quốc và Tuyên bố giữa ASEAN-Trung Quốc về ứng xử của các bên liên quan trên Biển Đông (DOC).

- Đồng thời với phát triển kinh tế-xã hội, phải tăng cường quốc phòng, an ninh, nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại; bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; tăng cường khối đại đoàn kết và sức mạnh của toàn dân tộc; tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của Cộng đồng quốc tế đối với chân lý, lẽ phải của chúng ta; gìn giữ hòa bình, ổn định; tạo môi trường và điều kiện thuận lợi để xây dựng, phát triển và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Thưa các vị đại biểu Quốc hội,

Trong 2 ngày qua, các Phó Thủ tướng và nhiều Bộ trưởng, Trưởng ngành theo chức năng nhiệm vụ của mình đã trả lời nhiều chất vấn của các vị Đại biểu Quốc hội đối với Thủ tướng Chính phủ. Thay mặt Chính phủ, tôi xin trân trọng báo cáo giải trình và trả lời chất vấn về một số vấn đề lớn, quan trọng mà các vị Đại biểu Quốc hội và đồng bào cử tri cả nước quan tâm.

Những ý kiến chất vấn khác, trong đó có 3 chất vấn của Đại biểu Trần Du Lịch vừa gửi đến, tôi sẽ trả lời bằng văn bản gửi đến các vị Đại biểu Quốc hội và đăng tải công khai trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. Chúng tôi xin cảm ơn các vị Đại biểu Quốc hội đã có nhiều ý kiến, chất vấn rất tâm huyết, trách nhiệm. Chính phủ sẽ tiếp tục thực hiện nghiêm túc các Nghị quyết về giám sát và chất vấn của Quốc hội.

Thưa Quốc hội, chúng ta vui mừng, phấn khởi về những thành tựu đạt được khá toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đất nước trong bối cảnh có rất nhiều khó khăn thách thức trong năm 2015 và 5 năm 2011-2015. Đây là công sức chung của cả nước.

Chính phủ xin chân thành cảm ơn Quốc hội đã cơ bản đồng tình với các Báo cáo của Chính phủ và đã ban hành các Nghị quyết về phát triển kinh tế-xã hội. Chính phủ sẽ nỗ lực phát huy những kết quả, ưu điểm đã đạt được, ra sức khắc phục những hạn chế, khuyết điểm, thực hiện tốt hơn nữa vai trò, chức năng, nhiệm vụ của mình để cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phấn đấu thực hiện thắng lợi nhiệm vụ kế hoạch năm 2016 – năm đầu của Kế hoạch 5 năm 2016-2020, thiết thực chào mừng Đại hội thi đua toàn quốc lần thứ IX, chào mừng Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng.

Rất mong nhận được sự ủng hộ, giám sát của các vị Đại biểu Quốc hội và đồng chí, đồng bào cả nước.

Xin cảm ơn Quốc hội.

Chú thích
--------------------------------------------------------------------------------

[1] Sau khi ban hành Hiến pháp năm 2013 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2014), Quốc hội đã ban hành 40 Luật trong đó có nhiều luật quan trọng như Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Luật Ngân sách nhà nước, Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư công, Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp... Trong giai đoạn 2011 - 2015, Quốc hội đã ban hành 87 Bộ Luật, Luật, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành 13 Pháp lệnh, Chính phủ đã ban hành 668 Nghị định, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành 340 Quyết định, các Bộ, ngành đã ban hành 3.327 Thông tư và 439 Thông tư liên tịch. Tổng số là 4.774 văn bản dưới luật được ban hành.

[2] Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt 259 quy hoạch và các Bộ, ngành phê duyệt được 231 quy hoạch. Điều chỉnh bổ sung quy hoạch 6 vùng kinh tế-xã hội, 4 vùng kinh tế trọng điểm, 41 quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội các tỉnh, thành phố.

[3] Theo báo cáo của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội.

[4] Theo Quyết định số 1614/QĐ-TTg ngày 15/9/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án tổng thể "Chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020,” các tiêu chí đo lường nghèo gồm:

- Các tiêu chí về thu nhập: (1) Chuẩn mực sống tối thiểu về thu nhập là mức thu nhập đảm bảo chi trả được những nhu cầu tối thiểu nhất mà mỗi người cần phải có để sinh sống, bao gồm nhu cầu về tiêu dùng lương thực, thực phẩm và tiêu dùng phi lương thực, thực phẩm phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội của đất nước trong từng thời kỳ.

(2) Chuẩn nghèo về thu nhập là mức thu nhập mà nếu hộ gia đình có thu nhập dưới mức đó sẽ được coi là hộ nghèo về thu nhập. Chuẩn nghèo về thu nhập dùng để xác định quy mô nghèo về thu nhập của Quốc gia, xác định đối tượng thụ hưởng chính sách hỗ trợ (gọi là chuẩn nghèo chính sách).

(3) Chuẩn mức sống trung bình về thu nhập: là mức thu nhập mà ở mức đó người dân đã đạt được mức sống trung bình của xã hội, bao gồm nhu cầu về tiêu dùng lương thực, thực phẩm và tiêu dùng phi lương thực, thực phẩm, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước trong từng thời kỳ.

- Mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản: Các dịch vụ xã hội cơ bản bao gồm 5 dịch vụ: tiếp cận về y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, tiếp cận thông tin. Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt gồm 10 chỉ số: (1) trình độ giáo dục của người lớn; (2) tình trạng đi học của trẻ em; (3) tiếp cận các dịch vụ y tế; (4) bảo hiểm y tế; (5) chất lượng nhà ở; (6) diện tích nhà ở bình quân đầu người; (7) nguồn nước sinh hoạt; (8) loại hố xí/nhà tiêu; (9) sử dụng dịch vụ viễn thông; (10) tài sản phục vụ tiếp cận thông tin.

[5] Theo tính toán của Bộ Lao động - Thương binh và xã hội, hộ nghèo ở khu vực nông thôn được xác định là hộ có thu nhập bình quân đầu người từ 700 nghìn đồng/tháng trở xuống hoặc có thu nhập bình quân đầu người từ 700 nghìn/tháng đến 1 triệu đồng/tháng và thiếu hụt 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.

Hộ nghèo ở khu vực thành thị được xác định là hộ có thu nhập bình quân đầu người từ 900 nghìn đồng/tháng trở xuống hoặc có thu nhập bình quân đầu người từ 900 nghìn đồng/tháng đến 1,3 triệu đồng/tháng và thiếu hụt 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.

Hộ cận nghèo ở khu vực nông thôn được xác định là hộ có thu nhập bình quân đầu người trên 700 nghìn đồng/tháng đến 1 triệu đồng/tháng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản. Hộ cận nghèo ở khu vực thành thị được xác định là hộ có thu nhập bình quân đầu người trên 900 nghìn đồng/tháng đến 1,3 triệu đồng/tháng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản.

[6] Quyền tự do liên kết được đề cập đến trong hai công ước này chỉ bao gồm quyền của người lao động cũng như của người sử dụng lao động được thành lập, gia nhập tổ chức đại diện cho mình nhằm mục đích tương tác trong quan hệ lao động. Hai công ước này không điều chỉnh các hiệp hội cũng như các hoạt động không thuộc về quan hệ lao động./.