Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, toàn ngành Thông tấn xã Việt Nam (tiền thân là Việt Nam Thông tấn xã và Thông tấn xã Giải phóng) đã vào trận.

Cùng với những cán bộ, phóng viên thường trực tại Tổng hành dinh là những cán bộ, phóng viên, điện báo viên sống và chiến đấu tại các chiến trường, bám sát các mặt trận, đi cùng các mũi tiến công, tham gia các trận đánh của quân ta.

Tay bút và tay súng của các cán bộ, phóng viên, điện báo viên đã góp phần xuất sắc vào việc thực hiện thành công nhiệm vụ của Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) với chức trách là một cơ quan thông tin chiến lược của Đảng và Nhà nước.

Nhân kỷ niệm 35 năm ngày giải phóng miền Nam, Vienam+ xin lược trích bài viết "35 năm năm nhớ lại toàn ngành vào trận" của nhà báo Đỗ Phượng -  nguyên Ủy viên BCH Trung ương Đảng, nguyên Tổng Giám đốc TTXVN.

Nhớ lại một buổi chiều cuối tháng Giêng năm 1975, tan cuộc họp, anh Lê Văn Lương giữ lại hỏi thăm sức khỏe anh Trần Thanh Xuân và khả năng công tác chuyên môn và kỹ thuật của Thông tấn xã Giải phóng.

Trước khi chia tay, anh nói vừa như nhắc nhở vừa như trao nhiệm vụ: Anh Ba (Lê Duẩn), Anh Năm (Trường Chinh) và Ban Bí thư trao trách nhiệm cho lãnh đạo Thông tấn xã, chuẩn bị mọi mặt sẵn sàng đáp ứng mọi biến động trong tình hình mới, không được để xảy ra một sơ suất nào dù nhỏ.

Vẫn như thường lệ, anh nói nhỏ nhẹ, không hề cao giọng, nhưng người nghe như cảm nhận được nỗi bức xúc và sự lo lắng của đồng chí Thường trực Ban Bí thư về chức trách của một cơ quan thông tin chiến lược của Đảng và Nhà nước trước giai đoạn bước ngoặt của Cách mạng.

Tuần đầu tháng 3 năm 1975, Văn phòng anh Ba thông báo miệng ý kiến chỉ đạo cấp trên. Thông tấn xã chuẩn bị làm việc giống như thời kỳ tháng 12 năm 1972 (chiến đấu chống chiến tranh phá hoại bằng máy bay B52 của đế quốc Mỹ). Anh Trần Độ yêu cầu giao ban vào 7 giờ các buổi sáng ở Ban Thống nhất Trung ương. Văn phòng anh Văn (Võ Nguyên Giáp) nhắc: Bất cứ lúc nào trong ngày, hễ có tin quan trọng phải báo cáo ngay.

Thực ra thời gian mở chiến dịch Tây Nguyên chỉ được truyền miệng vào tối mùng 9 tháng 3 và vẫn là tinh thần chỉ đạo giải phóng miền Nam trong hai năm 1975-1976. Chiến dịch Buôn Ma Thuột phát triển thắng lợi nhanh vượt qua mọi dự kiến.

Anh Đào Tùng lãnh đạo đoàn cán bộ đặc biệt lên đường ngay, vừa nắm tình hình tại chỗ, vừa trực tiếp tăng cường cho Thông tấn xã Giải phóng. Được các anh Tố Hữu, Hoàng Tùng đồng ý, anh Đào Tùng lên đường mà không kịp báo cáo và xin quyết định của Ban Bí thư.

Tình hình mặt trận phát triển dồn dập. Từ ngày 10 tháng 3 năm 1975, Phòng Thông tấn Quân sự, Ban Biên tập Tin miền Nam và Phòng Thư ký (Bộ Biên tập) tập trung ăn nghỉ tại chỗ làm việc. Ngoài việc giao ban lúc 7 giờ sáng với anh Trần Độ ở Ban Thống nhất Trung ương, từ sau 5 giờ chiều hàng ngày, Đỗ Phượng có mặt tại nhà riêng anh Ba vừa báo cáo thông tin, vừa chờ chỉ thị hoặc nghe ngóng động thái mới để kịp bố trí lực lượng.

Đoàn tăng cường cho khu V có cả kỹ thuật điện báo truyền chữ, truyền ảnh (têlêtíp và têlêphôtô) do anh Đinh Ngọc Hường phụ trách đã lên đường. Liên tục các tổ cơ động có thể điều động đều được vào trận. Tổ đi sau nhất cũng là tổ cơ động cuối cùng có Trần Mai Hưởng, Lâm Hồng Long... được tăng cường cho mặt trận Huế. Với tư tưởng chỉ đạo, mặt trận phát triển đến đâu thì tiến theo đến đó.

Từ chiến trường B2, nửa cuối tháng 4 năm 1975, toàn Thông tấn xã Giải phóng kể cả số phóng viên đi theo anh Đào Tùng, như Trần Mai Hạnh, Văn Bảo lên đường theo các tuyến khác nhau tiến vào đích cuối cùng. Anh chị Trần Thanh Xuân cũng rời căn cứ.

Căn cứ Thông tấn xã Giải phóng được trao lại cho anh Đào Tùng và một nhóm cán bộ kỹ thuật vừa lo bảo vệ căn cứ, vừa giữ liên lạc với Hà Nội và các hướng. Lúc này, anh Nguyễn Xuân Bích ở Ban Tin miền Bắc được tăng cường cho khu VI đã có mặt ở Đà Lạt, các tỉnh Nam Trung bộ đã được tăng cường đủ phóng viên.

Khoảng những ngày 15 - 16 tháng 3 cho đến đầu tháng 5 năm 1975, Ban Biên tập Tin miền Nam và Phòng Thông tấn Quân sự phát tin dồn dập. Từ cuối tháng 3, không thể chờ in vào bản tin ngày mà phải in ngay tin chiến sự kịp gửi cho các đài, báo và các cơ quan Trung ương.

Có mặt trận, vừa phát tin xong, lại có tin bổ sung. Có mặt trận phát tới ba, bốn tin trong ngày. Càng làm tin, càng khỏe, càng vui. Ta đã khai thác được khá nhiều từ nguồn phương Tây làm phong phú thêm nguồn tin và ghi nhanh chiến sự ngắn gọn từ chiến trường gửi về. Thông tin từ Tân Sơn Nhất, Tây Nguyên, Huế, Đà Nẵng, tiếp đó là Quảng Nam, Phú Yên, Khánh Hòa, Lâm Đồng cùng nguồn tin phương Tây khá đầy đặn cho bản tin hàng ngày.

Các ngày 27, 28 tháng 4, tình hình chính trị của chính quyền Sài Gòn biến động mạnh, hoạt động ngoại giao của một số sứ quán phương Tây tại Sài Gòn cũng nhộn nhịp. Đúng lúc đó, Tân Sơn Nhất điện ra: Buộc phải ngừng lên máy làm việc. Các tổ cơ động của B2 kể cả bộ phận của anh Năm Xuân cùng các tổ cơ động của Tổng xã theo kỷ luật chiến trường đều không lên máy.

Như trên trời rơi xuống, chị Yến mang bản tin của tổ Trần Mai Hưởng cùng các phóng viên ảnh, kể cả phóng viên Thông tấn Quân sự báo về đã gặp cựu Trưởng Phòng Thông tấn Quân sự (Trần Bình, Phó Chính ủy Sư đoàn 304) sẽ chuyển hướng đi theo lực lượng này vào đích cuối cùng.

Tràn ngập niềm vui, vội vàng lên chỗ anh Đống Ngạc (Văn phòng Bí thư Thứ nhất Lê Duẩn). Không ai ở dưới nhà, ngồi chờ trên ghế gỗ cứng mà ngủ ngon lành hồi nào không biết. Có ai đó lấy báo đập nhẹ vào đầu, bừng mở mắt.

Anh Ba mặc quần xà lỏn tươi cười đứng trước mặt: Về, về ngủ đi cho khỏe, anh Tấn (tướng Lê Trọng Tấn) đã hội được cánh quân phía đông, Dương Văn Minh hay ai lên làm Tổng thống của Việt Nam Cộng hòa cũng không còn làm gì được nữa. Nhớ chuẩn bị pháo nổ to và dài. Có tin địch đầu hàng thì nổ pháo ngay. Ban Bí thư đã quyết định Thông tấn xã nổ pháo là báo tin toàn thắng cho nhân dân.

Phóng xe về Tổng xã vừa ăn phở vừa triệu tập anh em cán bộ Văn phòng đang trực lên giao nhiệm vụ: Chuẩn bị đủ pháo tốt, dùng dây thép nối dài từ tầng trên cùng của nhà số 5 Lý Thường Kiệt. Chưa treo vội nhưng sẵn sàng có lệnh thì phải nổ pháo giòn giã và kéo dài.

Sáng 29/4, Trần Dũng cho biết cả 4 cánh quân đều có tổ phóng viên đi theo sẵn sàng lên sóng. Riêng cánh Tây Nam chưa liên lạc được, chắc sẽ sử dụng phân xã khu VIII. Các phóng viên Thông tấn xã Giải phóng theo các đồng chí lãnh đạo ở các hướng thì không được mang theo điện đài nên không thể chờ tin, bài của họ.

Lúc này, các báo và đài đều có người chờ sẵn ở Việt Nam Thông tấn xã để nhận tin, ảnh. Hai mươi giờ 30 phút hôm đó, trời mưa to, điện thoại của Đống Ngạc gọi: Lên ngay, mang theo máy ảnh!

Lên đến nơi, anh Đống Ngạc kêu: Trễ rồi, anh Văn vừa đi khỏi nhà anh Ba được mấy phút. Anh Đống Ngạc rất tiếc đã không chụp được ảnh anh Ba và anh Văn ôm hôn nhau cười vui trong nước mắt.

Ngồi lại uống trà, anh Đống Ngạc cho biết theo anh Văn, tình hình Sài Gòn có thể kết thúc trong buổi sáng 30/4/1975. Các ngày 1 và 2/5 có thể kết thúc ở Cần Thơ, Phú Quốc, Côn Đảo. Trường Sa và các đảo phụ cận đã thu gọn xong cả rồi.

Trưa 30/4, vừa nhận tin điện báo của tổ Trần Mai Hưởng, vừa nghe đài Sài Gòn, làm tin ngay song phải đưa lên cấp trên xem lại bởi đó có lẽ là bản tin quan trọng nhất trong lịch sử chiến tranh, trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thực hiện trọn vẹn di huấn thiêng liêng của Bác Hồ kính yêu “đánh cho Mỹ cút”, “đánh cho ngụy nhào”.

Không đợi duyệt tin, tràng pháo dài từ tầng trên cùng nhà số 5 Lý Thường Kiệt nổ giòn giã trong khi cán bộ và nhân dân đã đứng đông nghịt tràn ngập trước cửa Trường Đại học Tổng hợp, trên dọc đường Lý Thường Kiệt, Lê Thánh Tông, tràn cả lên vườn hoa Tao Đàn.

Tiếng vỗ tay, tiếng reo hò và cả những hàng nước mắt, các đoàn người nối tiếp nhau kéo đến, tràn ngập trước trụ sở Việt Nam Thông tấn xã ngay cả khi tiếng pháo đã ngừng hẳn./.

(Lược trích từ cuốn "Thông tấn xã Việt Nam với Đại thắng mùa xuân”)

(TTXVN/Vietnam+)