Trong buổi làm việc sáng 21/11, với 474/478 tổng số đại biểu có mặt bỏ phiếu tán thành (95,18%), Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, Hội đồng Nhân dân bầu hoặc phê chuẩn.

Với việc thông qua văn bản quan trọng này, từ ngày 1/2/2013, một phương thức mới nhằm nâng cao hiệu quả giám sát của Quốc hội, Hội đồng Nhân dân đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, Hội đồng Nhân dân bầu hoặc phê chuẩn; giúp những người này nhận thấy được mức độ tín nhiệm để có biện pháp phấn đấu, rèn luyện, nâng cao trách nhiệm và hiệu quả hoạt động của mình.

Việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội, Hội đồng Nhân dân giúp người được lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm thấy được mức độ tín nhiệm của mình để phấn đấu, rèn luyện, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động; làm cơ sở để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xem xét đánh giá, bố trí, sử dụng cán bộ. Quốc hội, Hội đồng Nhân dân tổ chức lấy phiếu tín nhiệm định kỳ hằng năm kể từ năm thứ hai của nhiệm kỳ; riêng đối với nhiệm kỳ 2011-2016 thì việc lấy phiếu tín nhiệm lần đầu tiến hành tại kỳ họp đầu năm 2013.

Căn cứ đánh giá mức độ tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, Hội đồng Nhân dân bầu hoặc phê chuẩn gồm: kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn; phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống.

Theo nghị quyết, Quốc hội lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức vụ sau đây: Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước; Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội, các thành viên khác của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, các thành viên khác của Chính phủ; Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao, Tổng Kiểm toán Nhà nước.

Hội đồng Nhân dân lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức vụ sau: Chủ tịch Hội đồng Nhân dân, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhân dân, Ủy viên thường trực Hội đồng Nhân dân, Trưởng Ban của Hội đồng Nhân dân; Chủ tịch Ủy ban Nhân dân, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân, các thành viên khác của Ủy ban Nhân dân.

Đáng chú ý, người có quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng Nhân dân đánh giá “tín nhiệm thấp” thì có thể xin từ chức. Người có trên 2/3 tổng số đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng Nhân dân đánh giá “tín nhiệm thấp” hoặc 2 năm liên tiếp có quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân đánh giá “tín nhiệm thấp” thì Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Thường trực Hội đồng Nhân dân trình Quốc hội, Hội đồng Nhân dân bỏ phiếu tín nhiệm.

Người có quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng Nhân dân bỏ phiếu “không tín nhiệm” thì cơ quan hoặc người có thẩm quyền đã giới thiệu người đó để Quốc hội, Hội đồng Nhân dân bầu hoặc phê chuẩn có trách nhiệm trình Quốc hội, Hội đồng Nhân dân xem xét, quyết định việc miễn nhiệm, bãi nhiệm hoặc phê chuẩn việc miễn nhiệm, cách chức đối với người không được Quốc hội, Hội đồng Nhân dân tín nhiệm.

Cuối giờ sáng nay, Quốc hội đã thảo luận ở hội trường về dự án Luật phòng, tránh và giảm nhẹ thiên tai. Đây là nội dung đã được các vị đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ trong ngày làm việc 8/11 vừa qua.

Các ý kiến tại buổi thảo luận đề nghị Luật này cần phải luật hóa các văn bản liên quan đến phòng, chống thiên tai (Luật Đê điều, Pháp lệnh phòng, chống lụt, bão; Pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi; Pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình khí tượng thủy văn…) chứ không chỉ luật hóa Pháp lệnh phòng, chống lụt, bão.

Nhiều ý kiến đề nghị xác định rõ nguyên tắc “Nhà nước phải có trách nhiệm chính trong phòng, chống thiên tai”; nên quy định việc bảo đảm tính mạng của người dân là nguyên tắc hàng đầu.

Các đại biểu Quốc hội cũng kiến nghị bổ sung chính sách đối với việc xử lý, khắc phục hậu quả thiên tai để có thể huy động được nguồn lực cho công tác này; đồng thời khuyến khích doanh nghiệp và tổ chức kinh tế đầu tư ở vùng có thiên tai; đảm bảo thông tin cảnh báo kịp thời cho ngư dân đánh bắt xa bờ.

Đại biểu cũng đề nghị dự thảo Luật nên quy định lực lượng vũ trang là lực lượng nòng cốt trong việc phòng ngừa, ứng phó và khắc phục hậu quả thiên tai; làm rõ thế nào là “lực lượng chuyên nghiệp,” “bán chuyên nghiệp” để thuận tiện cho việc huy động, sử dụng lực lượng này và để tiến tới phải có một lực lượng chủ lực, chuyên nghiệp và mạnh.

Buổi thảo luận cũng ghi nhận các ý kiến đề nghị dự thảo Luật quy định cụ thể hơn, làm rõ, tách bạch trách nhiệm quản lý nhà nước của các bộ, cơ quan ngang bộ cũng như Ủy ban Nhân dân các cấp và cơ chế phối hợp giữa các lực lượng tham gia phòng, chống thiên tai; đồng thời xác định cụ thể trách nhiệm cũng như xử lý vi phạm đối với người đứng đầu các cơ quan về phòng, chống thiên tai./.

Quang Vũ (TTXVN)