Điều chỉnh phân ngành dầu khí để đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia dài hạn

Trong giai đoạn 2021-2024, hoạt động tìm kiếm, thăm dò của Petrovietnam đã có 6 phát hiện dầu khí mới, gia tăng trữ lượng 58,68 triệu tấn quy dầu, trung bình đạt 14,7 triệu tấn/năm.

Các giàn khoan khai thác dầu khí của Liên doanh Vietsovpetro tại mỏ Bạch Hổ. (Ảnh: Huy Hùng/TTXVN)
Các giàn khoan khai thác dầu khí của Liên doanh Vietsovpetro tại mỏ Bạch Hổ. (Ảnh: Huy Hùng/TTXVN)

Trong bối cảnh nhu cầu năng lượng ngày càng tăng và thị trường năng lượng thế giới tiềm ẩn nhiều biến động, việc điều chỉnh quy hoạch phân ngành dầu khí được xem là bước đi quan trọng nhằm bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia trong dài hạn.

Nội dung này bám sát định hướng của Quy hoạch tổng thể năng lượng quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 và Nghị quyết số 70-NQ/TW của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.

Điều chỉnh toàn bộ chuỗi giá trị dầu khí

Tiến sỹ Nguyễn Văn Tư - Phó Viện trưởng phụ trách Viện Dầu khí Việt Nam (VPI)-đơn vị thành viên của Tập đoàn Công nghiệp-Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) cho biết phương án điều chỉnh quy hoạch phân ngành dầu khí sẽ bao phủ toàn bộ chuỗi giá trị dầu khí từ tìm kiếm - thăm dò - khai thác, công nghiệp khí, chế biến dầu khí, vận chuyển - tồn trữ - phân phối sản phẩm. Đây là các cấu phần cốt lõi đóng vai trò nền tảng trong bảo đảm an ninh năng lượng của Việt Nam.

Trong giai đoạn 2021-2024, hoạt động tìm kiếm, thăm dò của Petrovietnam đã có 6 phát hiện dầu khí mới, gia tăng trữ lượng 58,68 triệu tấn quy dầu, trung bình đạt 14,7 triệu tấn/năm.

Hệ số bù trữ lượng năm 2024 đạt 1,07 lần - mức cao nhất trong 10 năm gần đây. Tuy vậy, kết quả này vẫn chưa đạt mục tiêu 16-22 triệu tấn/năm của Quy hoạch tổng thể về năng lượng quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (theo Quyết định 893/QĐ-TTg ngày 26/7/2023 của Thủ tướng Chính phủ) do nhiều nguyên nhân như quy mô mỏ ngày càng nhỏ và cận biên, chi phí phát triển cao, rủi ro địa chất lớn trong khi môi trường cạnh tranh và cơ chế ưu đãi chưa đủ mạnh.

Vì vậy, VPI đề xuất tăng cường điều tra cơ bản, đẩy mạnh khảo sát địa chấn, hoàn thiện cơ chế ưu đãi đặc thù cho vùng nước sâu, xa bờ, gắn phát triển kinh tế biển với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền.

Cùng đó, mở rộng khảo sát địa vật lý tại các vùng nước nông chuyển tiếp và nước sâu nhằm làm rõ cấu trúc địa chất; đánh giá tiềm năng khí hydrate và dầu khí phi truyền thống như nguồn dự trữ chiến lược.

VPI cũng đề xuất chuyển trọng tâm tìm kiếm sang các dạng bẫy phi cấu tạo, bẫy địa tầng, bẫy hỗn hợp; đồng thời ứng dụng công nghệ xử lý dữ liệu địa chấn tiên tiến, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia, tích hợp trí tuệ nhân tạo/học máy (AI/ML) trong dự báo và sàng lọc mục tiêu thăm dò.

Về khai thác, với tốc độ bổ sung trữ lượng mới không theo kịp sản lượng khai thác (chỉ đạt 0,62 lần/năm) trong khi nguồn khí được dự báo sẽ tăng khi các dự án trọng điểm như Lô B - Ô Môn, Cá Voi Xanh đi vào khai thác, vì vậy VPI kiến nghị tối ưu hóa khai thác các mỏ đang hoạt động, đẩy nhanh khai thác các phát hiện mới - nhất là ở vùng nước sâu, xa bờ và các đối tượng phi truyền thống.

Trong lĩnh vực công nghiệp khí, với dự báo nhu cầu khí có thể tăng từ mức 6,2-9,3 tỷ m³/năm hiện nay lên 10-15 tỷ m³/năm, định hướng đặt ra là phát triển hạ tầng khí đồng bộ, phát triển hệ thống đường ống liên vùng và kết nối các trung tâm năng lượng, tận thu tối đa nguồn khí hiện hữu, xây dựng thị trường khí theo cơ chế thị trường có điều tiết và từng bước liên kết với thị trường khu vực.

Đối với khí LNG nhập khẩu, theo Quy hoạch Điện VIII điều chỉnh, tổng công suất các nguồn điện LNG sẽ đạt 22.524 MW (tương đương 9,5 - 12,3% tổng công suất hệ thống) đến năm 2030.

Vì vậy, VPI đề xuất xây dựng các kho LNG trung tâm có khả năng cung cấp cho nhiều nhà máy cũng như phát triển kho LNG gắn với khu kinh tế - công nghiệp ven biển.

Đối với lĩnh vực chế biến dầu khí, hiện sản xuất xăng dầu trong nước mới đáp ứng khoảng 60% nhu cầu, thấp hơn mục tiêu 70%. Các nhà máy lọc dầu vận hành ổn định nhưng cần tiếp tục tối ưu hóa, đa dạng hóa sản phẩm và tiết giảm chi phí.

Định hướng phát triển là đầu tư các dự án chế biến mới, thu hút FDI, nâng cấp - mở rộng các tổ hợp hiện hữu, tăng tích hợp lọc dầu - hóa dầu - hóa chất, đồng thời nghiên cứu phát triển hydrogen, nhiên liệu hàng không bền vững (SAF) và nhiên liệu sinh học.

Đối với vận chuyển-tồn trữ-phân phối, dự trữ xăng dầu quốc gia hiện đạt 63 ngày nhập ròng, thấp hơn mục tiêu 75-80 ngày theo Quyết định 893/QĐ-TTg ngày 26/7/2023 và chưa đạt yêu cầu 90 ngày theo Nghị quyết 70-NQ/TW.

Vì vậy, VPI đề xuất đầu tư mở rộng hệ thống kho cảng, tăng năng lực dự trữ quốc gia, phát triển mạng lưới phân phối hợp lý và khuyến khích sử dụng nhiên liệu sinh học.

VPI cũng kiến nghị Chính phủ hoàn thiện thể chế, chính sách giá, cơ chế ưu đãi cho dầu khí nước sâu-xa bờ; cơ chế thu giữ và lưu trữ Carbon (CCS); cơ chế pass-through cho LNG (cơ chế chuyển ngang cho phép các nhà máy điện chuyển toàn bộ chi phí mua khí, vận chuyển, và tái hóa lỏng LNG vào giá bán điện một cách minh bạch); tăng vốn cho Petrovietnam; đầu tư hạ tầng; hình thành trung tâm công nghiệp-năng lượng quy mô lớn; thúc đẩy chuyển giao công nghệ, phát triển nhân lực và mở rộng hợp tác quốc tế.

ttxvn-khai-thac-dau-khi-cua-petrovietnam-resize.jpg
Các giàn khoan trên mỏ Bạch Hổ. (Ảnh: Huy Hùng/TTXVN)

Cần cơ chế đồng bộ đủ mạnh và nhất quán

Các chuyên gia cho rằng cùng với việc điều chỉnh quy hoạch phân ngành dầu khí, các cơ chế chính sách cần được hoàn thiện theo hướng đồng bộ, ổn định và đủ mạnh để ngành dầu khí thực hiện hiệu quả vai trò bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.

Theo Tiến sỹ Dư Văn Toán (Viện Khoa học Khí tượng Thủy Văn, Môi trường và Biển - Bộ Nông nghiệp và Môi trường), với việc tham gia toàn bộ chuỗi giá trị năng lượng từ thăm dò-khai thác dầu khí, vận chuyển khí, chế biến, lọc hóa dầu cho đến sản xuất điện và dịch vụ năng lượng, trong những giai đoạn thị trường thế giới biến động mạnh, các doanh nghiệp đầu tàu như Petrovietnam có thể linh hoạt điều chỉnh khai thác, chế biến và phân phối, qua đó đa dạng hóa nguồn cung và nâng cao khả năng dự phòng, từ đó giúp giảm đáng kể rủi ro phụ thuộc vào một khu vực hay một tuyến vận chuyển năng lượng cụ thể.

Trong dài hạn, những bước đi này góp phần nâng cao năng lực tự chủ năng lượng, đồng thời tạo nền tảng để Việt Nam chủ động hơn trước các biến động của thị trường quốc tế.

Điều này đặc biệt quan trọng khi hệ thống năng lượng đang bước vào giai đoạn chuyển dịch, đòi hỏi vừa bảo đảm nguồn cung truyền thống, vừa phát triển các nguồn năng lượng mới và đa dạng hóa cấu trúc thị trường, Tiến sỹ Dư Văn Toán chỉ rõ.

Các chuyên gia cũng cho rằng cần sớm hoàn thiện khung thể chế dài hạn cho ngành năng lượng, bao gồm cơ chế đầu tư, cơ chế tài chính và cơ chế chia sẻ rủi ro rõ ràng.

Đồng thời, cần khuyến khích đa dạng hóa nguồn cung và phát triển hạ tầng năng lượng như kho dự trữ, cảng LNG và hệ thống vận chuyển.

Theo chuyên gia cao cấp Nguyễn Văn Phụng, nguyên Cục trưởng Cục Thuế Doanh nghiệp lớn (Bộ Tài chính), một trong những rào cản lớn hiện nay là khung pháp lý chưa theo kịp sự phát triển của các lĩnh vực năng lượng mới. Rất nhiều lĩnh vực Petrovietnam đang bước vào - đặc biệt là khí LNG, điện khí, hydrogen, công nghệ thu giữ, lưu trữ carbon - đều có chuỗi giá trị hoàn toàn khác với cách làm của ngành dầu khí truyền thống nhưng pháp luật hiện hành lại đang được xây dựng dựa trên các mô hình cũ.

Việc thiếu một “khung pháp lý đầy đủ” khiến doanh nghiệp bối rối, cơ quan quản lý lúng túng trong cách áp dụng thuế, phí.

Trong khi đó, Tiến sỹ Nguyễn Quốc Thập, Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam khẳng định nếu quy chế tài chính được sửa đổi theo tinh thần của Luật số 68/2025/QH15 của Quốc hội (Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp) ngày 14/6/2025, Petrovietnam có thể tháo gỡ được những vướng mắc đang tồn đọng.

Về phía doanh nghiệp, Petrovietnam cần phát huy hiệu quả nguồn tài nguyên truyền thống, nâng cao hiệu quả thăm dò, tăng hệ số thu hồi dầu khí, làm chủ công nghệ khai thác; đồng thời tiếp tục mở rộng sang các lĩnh vực năng lượng mới, từ năng lượng bắc cầu như LNG đến các nguồn năng lượng mới hoàn toàn như điện gió ngoài khơi, amoniac, hydrogen xanh, hay công nghệ thu giữ-lưu trữ carbon (CCS/CCUS), ông Nguyễn Quốc Thập chỉ rõ./.

(TTXVN/Vietnam+)

Tin cùng chuyên mục