Một xã viên trong Hợp tác xã sản xuất càphê khu vực cao nguyên Boloven đang chăm sóc càphê tại vườn nhà. (Ảnh: Phạm Kiên/Vietnam+)

Đời sống của hơn 1.000 hộ thành viên Hợp tác xã sản xuất càphê khu vực cao nguyên Boloven, thuộc ba huyện nghèo ở ba tỉnh Nam Lào gồm Champasak, Secong và Salavan, đã thay đổi hoàn toàn khi cùng tham gia mô hình càphê tự quản tại hợp tác xã này.

Khi tham gia mô hình này, các hộ trồng càphê sẽ cùng đồng thuận và minh bạch trong quyết sách, cùng tự giám sát để bảo đảm chất lượng sản phẩm và hỗ trợ nhau để cùng phát triển. Điều này không chỉ giúp người dân thay đổi nhận thức về phương thức sản xuất, bán được giá càphê cao hơn, mà còn giúp thương hiệu càphê sạch của Lào ngày càng được biết nhiều trên trường quốc tế.

Ra đời vào ngày 7/7/2007 trong khuôn khổ một dự án hợp tác giữa Chính phủ Lào và Pháp, Hiệp hội sản xuất càphê khu vực cao nguyên Boloven có mục đích tạo thế mạnh cho người dân trong việc "mặc cả" với thị trường và khuyến khích người dân gia tăng sản lượng càphê; nâng cao chất lượng càphê của Lào trên thị trường thế giới; đem lại nguồn thu cao hơn và đảm bảo giá cho người nông dân.

Một trang trại càphê trồng tại Paksong, cao nguyên Boloven, tỉnh Champasak, Nam Lào. (Ảnh: Phạm Kiên/Vietnam+)

Sau khi dự án kết thúc, Chính phủ Lào đã bàn giao cho người dân tự quản và đến năm 2014, Hiệp hội được đổi thành Hợp tác xã sản xuất càphê khu vực cao nguyên Boloven.

Để trở thành thành viên chính thức của hợp tác xã, các hộ phải là người địa phương ở khu vực cao nguyên Boloven, có vườn càphê và phải viết đơn xin gia nhập, trong đơn phải ghi rõ diện tích vườn càphê hiện có và phải cam kết thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của hợp tác xã.

Sau đó, hợp tác xã sẽ chấp nhận cho hộ gia đình thành ứng viên và theo dõi liên tục trong thời gian 3 năm về ý thức tuân thủ và chấp hành quy định, trước khi quyết định "kết nạp" hộ này thành thành viên chính thức.

Theo ông Bounthong Thepkaysone, Chủ nhiệm Hợp tác xã, để đảm bảo được chất lượng càphê, ngay từ khi càphê còn đang non, các chuyên gia của hợp tác xã sẽ đánh giá và đưa ra dự báo về sản lượng có thể đạt được của từng vườn.

Sau khi thu hoạch, sản phẩm của mỗi hộ bán cho hợp tác xã sẽ không chênh lệch nhiều so với con số mà chuyên gia dự báo trước đó.

Một xã viên trong Hợp tác xã sản xuất càphê khu vực cao nguyên Boloven đang chăm sóc càphê tại vườn nhà. (Ảnh: Phạm Kiên/Vietnam+)

Sản phẩm càphê cũng phải đạt 10 tiêu chuẩn của hợp tác xã như càphê thu hoạch phải được hái bằng tay và chín 100%, từng vườn càphê phải có mã số để tránh bị pha trộn từ vườn khác; càphê thu hái xong không được để qua đêm mà phải đưa đi sơ chế, việc rửa, phơi sấy càphê phải tuân thủ theo đúng quy trình kỹ thuật; càphê trước khi chuyển đến nhà máy chế biến của hợp tác xã phải được nếm thử trước ở từng bản để kiểm tra chất lượng. Những hộ hoặc bản trong 3 năm vẫn không đạt tiêu chuẩn sẽ bị loại khỏi hợp tác xã.

Kiểm tra chất lượng càphê trước khi đóng bao xuất khẩu tại Nhà máy chế biến càphê của Hợp tác xã. (Ảnh: Phạm Kiên/Vietnam+)

Trải qua 11 năm hình thành và phát triển, từ hơn 500 hộ xã viên nghèo ban đầu với sản lượng xuất khẩu khoảng 100 tấn càphê nhân, đến nay, hợp tác xã đã có trên 1.000 hộ thành viên với lượng càphê nhân sạch xuất khẩu đạt trên 1.000 tấn/năm sang các thị trường khó tính như Pháp, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Mỹ, Canada...

Hiện mô hình hợp tác xã tự quản này đang được nhân rộng tại Nam Lào và đến nay ở khu vực cao nguyên Boloven đã có 7 hợp tác xã trồng và sản xuất càphê sạch./.