Khen NHNN 'thong minh hon,' chuyen gia nhan dinh ty gia bien dong 2% hinh anh 1Phó Thống đốc Nguyễn Thị Hồng phát biểu tại Diễn đàn. (Ảnh: T.H/Vietnam+)

Điểm sáng nhất của Ngân hàng Nhà nước đó là sự điều hành chính sách tiền tệ thông minh, bơm hút tiền trong hệ thống phù hợp, phối hợp với Bộ Tài chính phát hành trái phiếu Chính phủ nhuần nhuyễn hơn. Đặc biệt, Ngân hàng Nhà nước đã khéo léo trong việc đáp ứng thanh khoản và ổn định lãi suất liên ngân hàng để bảo vệ tỷ giá nhưng không gây biến động tới lãi suất trên thị trường.

Đó là chia sẻ của các chuyên gia tại Diễn đàn toàn cảnh ngân hàng năm 2019: "Để ngân hàng Việt vươn xa" do Thời báo Kinh tế Sài Gòn tổ chức ngày 8/5 tại Hà Nội.

"Ngân hàng Nhà nước đang thông minh lên"

Tại phiên thảo luận, trả lời câu hỏi về lãi suất, tỷ giá trong thời gian qua được duy trì tương đối ổn định, ông Võ Trí Thành, nguyên Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu và Quản lý Kinh tế Trung ương hóm hỉnh chia sẻ, Ngân hàng Nhà nước đang thông minh lên và thông minh nhất. Ông Thành nhấn mạnh, ba điều Ngân hàng Nhà nước cần làm là tăng sự chủ động, ổn định kỳ vọng và kết hợp với sự khéo léo trong sử dụng các công cụ tiền tệ trơn tru, linh hoạt để ứng xử.

Cũng theo ông Thành, bên cạnh đó, có những yếu tố tích cực như dự trữ ngoại tệ tăng; cán cân thanh toán quốc tế dương do dòng vốn vào Việt Nam khá tích cực. Nhìn tổng thể, lạm phát khoảng 4%.

"Cách ứng xử của Ngân hàng Nhà nước linh hoạt trong sử dụng công cụ và cách điều hành tỷ giá trung tâm và những yếu tố tích cực. Tôi tin rằng, tỷ giá năm nay chỉ biến động, có thể có một số thời điểm khác nhưng chỉ khoảng 2%. Năm ngoái tôi đã đúng, mọi người nói 3%-5% nhưng tôi nói chỉ 2% và tôi đã đúng," ông Thành nhấn mạnh.

[Sẽ ưu tiên tăng trưởng tín dụng cho những ngân hàng khỏe]

Còn ông Phạm Hồng Hải, Tổng giám đốc HSBC thì cho rằng Việt Nam ngày càng hấp dẫn nhà đầu tư nước ngoài. Thông thường những năm trước đây, Ngân hàng Nhà nước giữ tỷ giá cố định, nhưng nay đã linh hoạt và điều chỉnh ngay, tạo niềm tin thị trường. Khi có biến động thị trường thế giới, tâm lý nhà đầu tư chưa ổn định nên cách điều hành phải ổn định, thống nhất, tránh tạo tâm lý găm giữ ngoại tệ trong tương lai.

"Chúng tôi đi nhiều quốc gia kêu gọi đầu tư FDI tại Việt Nam. Các nhà đầu tư nước ngoài đều nhận định Việt Nam là điểm sáng đầu tư FDI, nhờ thành quả điều hành kinh tế vĩ mô, trong đó có tỷ giá. Cách thức điều hành của Ngân hàng Nhà nước đã thông minh hơn rất nhiều, tận dụng truyền thông và các biện pháp kỹ thuật," ông Hải thừa nhận.

Cũng theo ông Hải, hiện nhiều ngân hàng nước ngoài đang xếp hàng xin phép mở chi nhánh thâm nhập vào Việt Nam.

Về phía Ngân hàng Nhà nước, ông Nguyễn Tú Anh, Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền cho biết những năm qua, Ngân hàng Nhà nước có nhiều kịch bản khác nhau. Bước vào 2019, việc để ổn định thị trường cần là ổn định kỳ vọng, muốn ổn định được kỳ vọng cần thuyết phục thị trường.

“Đầu năm, một loạt thách thức đặt ra như kinh tế thế giới giảm tốc, căng thẳng thương mại Mỹ - Trung... làm cho dòng vốn chảy ra khỏi các nền kinh tế mới nổi, đặc biệt là những nền kinh tế vĩ mô không ổn định. Tuy nhiên trong bối cảnh đó thì Việt Nam vẫn có dòng vốn chảy vào do có kinh tế vĩ mô ổn định, có sự đánh giá rất tốt với thị trường, nhờ sự chủ động trong điều hành," ông Tú Anh nói.

Khen NHNN 'thong minh hon,' chuyen gia nhan dinh ty gia bien dong 2% hinh anh 2Giao dịch tại Vietcombank. (Ảnh: CTV/Vietnam+)

Vẫn còn nhiều thách thức

Theo ông Võ Trí Thành, trước mắt Ngân hàng Nhà nước vẫn còn thách thức, trong đó có lãi suất khó giảm thêm. Có nhiều câu chuyện từ bên ngoài, phụ thuộc điều hành của Fed. “Nhưng 3 điều chúng ta đang làm, nếu cứ loay hoay sẽ dẫn tới 2 chuyện là lãi suất rất khó giảm. Hơn nữa hiệu quả hệ thống tài chính nhìn về trung và dài hạn bị ảnh hưởng. Chính sách tiền tệ, mục tiêu trung gian quá nhiều,” ông Thành nói.

Vị chuyên gia phân tích: “Cung tiền M2, tín dụng vừa quản theo khối lượng lại vừa mục tiêu lãi suất và lãi suất. Tỷ giá trong chừng mực nhất định, dù linh hoạt hơn rất nhiều vẫn là công cụ chính sách. Chúng ta đang phải chuẩn bị cho một tương lai trung hạn không quá dài. Việt Nam phải chuyển sang bằng được chuyển sang diều hành lạm phát mục tiêu, khi đó, sự phát triển hệ thống tài chính là quản theo giá, đó là lãi suất. Đây là thách thức cực lớn với Ngân hàng Nhà nước.”

Cũng theo ông Võ Trí Thành, việc phối hợp chính sách tiền tệ, tài khoá đã tốt hơn nhưng cần suy nghĩ lại cho cả hiện tại và tương lai.

Đầu tiên là khả năng bơm hút tiền của ngân hàng. Câu chuyện lớn nhất là tăng dự trữ ngoại tệ. Việc bơm hút ngoài OMO dựa vào phát hành tín phiếu và về dài hạn thì có 2 điểm tốt: thứ nhất, Ngân hàng Nhà nước chịu chi phí, hạn chế sự phát triển nhanh, tốt của thị trường trái phiếu, giấy tờ có giá. Đây là cách làm tốt nhưng phát triển thị trường tài chính nói chung cần dần dần bỏ đi tín phiếu.

Thứ hai là việc phối hợp kế hoạch đầu tư trung hạn trong giải ngân và thực thi nên có những giai đoạn chi phí cơ hội của trái phiếu quá lớn.

Chia sẻ về vấn đề này, Phó Thống đốc Nguyễn Thị Hồng cho rằng,  trong thời gian qua dự trữ ngoại hối tăng lên, trong khi độ mở của nền kinh tế lớn, hoạt động xuất nhập khẩu trên GDP đã trên 200%, nhập khẩu khoảng 100%, sản xuất trong nước phụ thuộc vào nhập khẩu hàng hoá, máy móc, nguyên vật liệu thì việc tích luỹ ngoại tệ là cần thiết để ổn định chính sách tiền tệ. Thị trường ngoại hối, theo bà, không chỉ bị tác động bởi yếu tố kinh tế mà còn từ kỳ vọng của thị trường nên việc bơm, hút tiền có cân nhắc.

“Áp dụng dự trữ bắt buộc cho các tổ chức tín dụng trong bối cảnh tái cơ cấu khó khả thi, nên chúng tôi áp dụng phát hành tín phiếu. Cách này linh hoạt vì qua đấu thầu. Ngân hàng mua ngoại tệ, bán lại cho Ngân hàng Nhà nước là họ thấy có thanh khoản. Tín phiếu Ngân hàng Nhà nước là công cụ đấu thầu cho các tổ chức tín dụng linh hoạt, vừa hút tiền về mà vẫn không ảnh hưởng đến mặt bằng lãi suất,” Phó Thống đốc nói.

Còn chuyên gia Cấn Văn Lực cũng cho rằng,  hiện nay chính sách tiền tệ phải gánh quá nặng so với chính sách tài khóa. Ông Lực đưa ra dẫn chứng nhưng hỗ trợ lãi suất, hỗ trợ tín dụng... về cơ bản là của chính sách tài khóa, nhưng hiện nay chính sách tiền tệ đang phải gánh quá nặng. Hệ thống ngân hàng đặc biệt là trong trung và dài hạn đang phải làm thay cho thị trường vốn có nhiệm vụ cung ứng vốn trung dài hạn. Hiện nay cho vay vốn trung và dài hạn chiếm khoảng 50-60%, đang đè nặng lên hệ thống ngân hàng, nhưng bản chất của ngân hàng chỉ là cho vay ngắn hạn. Do vậy, về dài hạn, cần phải nâng cao vai trò của thị trường vốn.

Trong khi đó, áp lực lạm phát 2019 rất lớn, kiểm soát lạm phát sẽ là nhiệm vụ trọng tâm và rất khó khăn. Liên quan đến khả năng chống chọi của nền kinh tế với bên ngoài, dư địa chính sách tài khoá không còn nhiều, đòi hỏi kịch bản rất quan trọng trong thời kỳ vô cùng biến động.

Liên quan đến vấn đề an toàn vốn, chuyên gia tài chính Cấn Văn Lực cho rằng, ngành ngân hàng vừa muốn tái cơ cấu lại vừa mong muốn áp dụng thông lệ quốc tế theo chuẩn mực Basel 2 nên nhu cầu tăng vốn của các tổ chức tín dụng rất lớn, đặc biệt là 4 ngân hàng thương mại nhà nước.

"Chúng ta đã bàn nhiều, giải pháp cũng đã đưa ra, rất mong các cơ quan chức năng đồng bộ vào cuộc để tháo gỡ vướng mắc này," ông Lực nhấn mạnh./.

Chuyên gia Cấn Văn Lực nói về cơ cấu chức năng đồng bộ vào cuộc để tháo gỡ vướng mắc trong tăng vốn: