Vùng biển Kiên Giang có diện tích hơn 63.000km2, với bờ biển dài gần 200km và 143 hòn đảo, trong đó 41 đảo có cư dân sinh sống.

Tuy nhiên, vùng biển này đã và đang bị ô nhiễm môi trường làm suy giảm đa dạng sinh học và tài nguyên biển, mà nguyên nhân các nguồn gây ô nhiễm chưa được quản lý, kiểm soát, xử lý.

Nhận diện các nguồn gây ô nhiễm

Theo Hội bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường tỉnh Kiên Giang, các nguồn gây ô nhiễm môi trường biển ở đây gồm khai thác đánh bắt, nuôi trồng và chế biến thủy sản; tàu du lịch biển; khai khoáng; chất thải sinh hoạt và thuốc bảo vệ thực vật từ sản xuất nông nghiệp.

Tỉnh Kiên Giang hiện có đoàn tàu cá hơn 12.250 chiếc và hàng ngàn tàu cá khác của các tỉnh trong vùng hoạt động khai thác đánh bắt, với hàng trăm ngàn người lao động trên biển. Hoạt động sản xuất này gây ô nhiễm từ dầu, nhớt rơi đổ và rác thải sinh hoạt của ngư dân vứt xuống biển. Dư lượng dầu tại một số cảng cá, như cảng cá An Thới (Phú Quốc) đã vượt chuẩn quy định. Đặc biệt, hơn 4.000 tàu cá công suất nhỏ đánh bắt ven bờ bằng những công cụ mang tính tận diệt không những làm suy kiệt nguồn lợi thủy sản, mà còn gây ô nhiễm môi trường. Ngoài ra, quá trình nuôi hàng ngàn lồng bè cá trên biển hàng năm cũng tạo nguồn ô nhiễm môi trường biển.

Tiếp đến, diện tích nuôi tôm gần 85.000ha, trong đó nuôi tôm công nghiệp hơn 1.550ha, gần như chưa thực hiện xử lý nước thải nên dư lượng hóa chất cải tạo ao đầm nuôi tôm, thuốc thú y thủy sản, bùn đáy ao đầm… thải thẳng ra biển gây ô nhiễm. Kiên Giang có trên 30 nhà máy chế biến thủy sản, với công suất sản xuất hàng chục ngàn tấn mỗi năm, nhưng phần lớn các nhà máy không có hệ thống xử lý nước thải.

Chỉ tính riêng tại khu cảng cá Tắc Cậu (Châu Thành) nằm bên bờ sông Cái Lớn đổ ra biển có 18 nhà máy, với lượng nước thải hơn 10.000 m3/ngày, nhưng chỉ năm nhà máy có hệ thống xử lý nước thải. Hàng ngàn cơ sở sơ chế cá khô, chế biến nước mắm hầu hết xả thải thẳng ra môi trường tự nhiên gây ô nhiễm.

Song song đó, các loại hình du lịch khám phá biển, lặn ngắm san hô phát triển mạnh làm tăng lượng rác thải trên biển. Hoạt động của khách sạn, nhà hàng, nhà nghỉ gây ô nhiễm các vùng ven biển, ven đảo. Ngoài ra, hoạt động khai thác cát đã tạo trầm tích, tăng độ đục, gây xáo động môi trường sống và sự phát triển của các loài thủy hải sản. Đa số dân cư sinh sống ven bờ có thói quen xả rác trực tiếp xuống sông, xuống biển; lượng rác được thu gom, xử lý bằng công nghệ mới chưa nhiều, dẫn đến ô nhiễm môi trường ngày càng tăng.

Với khoảng 286.000ha trồng lúa, cho sản lượng hơn 4 triệu tấn trong năm 2012, nhưng Kiên Giang khó có thể thống kê chính xác lượng thuốc trừ sâu mà nông dân sử dụng hàng năm, do vậy không thể kiểm soát được dư lượng thuốc trừ sâu xâm nhiễm nguồn nước sông rạch và đổ ra biển gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.

Cần những giải pháp hữu hiệu

Theo bà Nguyễn Ngọc Phượng, Hội bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường tỉnh Kiên Giang, vùng biển Kiên Giang tiếp nhận tất cả các nguồn thải nói trên và nguồn ô nhiễm theo dòng nước thoát lũ ra biển Tây hàng năm, khiến một số chỉ tiêu môi trường tăng vượt mức cho phép, gây ô nhiễm cục bộ một số vùng cửa sông, ven bờ biển, cảng cá… Vì vậy, cần có những giải pháp hữu hiệu mang tính chiến lược để quản lý, kiểm soát và xử lý các nguồn gây ô nhiễm môi trường biển.

Trước mắt, tỉnh Kiên Giang cần sớm triển khai thực hiện các đề án bảo vệ môi trường lưu vực sông, cửa biển, kết hợp tăng cường các hoạt động kiểm soát ô nhiễm, cải thiện môi trường, thắt chặt quản lý đánh giá tác động môi trường; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, khu công nghiệp gây ô nhiễm dọc các lưu vực sông.

Tỉnh cũng cần thực hiện nuôi trồng thủy sản theo hướng GAP, hạn chế sử dụng thuốc thú y thủy sản, không sử dụng thuốc ngoài danh mục cho phép, xử lý nước thải trước khi đưa ra môi trường chung; vận động tuyên truyền các chủ tàu cá, ngư phủ không xả thải dầu nhớt, vứt túi nhựa, rác thải xuống biển. Các nhà máy chế biến thủy sản, cơ sở sản xuất nước mắm phải xây dựng hệ thống xử lý nước thải; tuyên truyền vận động người dân, cộng đồng xã hội tham gia bảo vệ, cải thiện môi trường, các doanh nghiệp sản xuất vì nền “kinh tế xanh”.

Trên lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, tỉnh khuyến cáo nông dân chọn lọc các loại thuốc bảo vệ thực vật an toàn, phân giải nhanh trong môi trường, gắn với sử dụng các sản phẩm hữu cơ, vi sinh trong phòng trừ sâu bệnh gây hại. Tỉnh đẩy mạnh ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong trồng trọt, hướng dẫn nông dân áp dụng “ba giảm, ba tăng” và bốn đúng trong phun thuốc phòng trừ sâu bệnh; xây dựng và phát triển những vùng chuyên canh sản xuất các sản phẩm nông nghiệp sạch, gieo trồng các loại lúa kháng sâu bệnh; sản xuất nông nghiệp bền vững đi đôi với bảo vệ môi trường./.

Lê Huy Hải (TTXVN)