Qua kiểm toán việc quản lý nguồn nước lưu vực sông Mekong gắn với việc thực hiện Mục tiêu phát triển bền vững, Kiểm toán Nhà nước đã phát hiện ra nhiều bất cập trong việc quản lý, dẫn tới một thực trạng đáng lo ngại cả về môi trường sống cũng như suy giảm nguồn tài nguyên.

Bên cạnh đó, việc thiếu các chế tài cụ thể để giải quyết tranh chấp đối với các bất đồng giữa các quốc gia thành viên trong việc quản lý và sử dụng nước lưu vực sông Mekong và những tác động ảnh hưởng của nó trong khu vực cũng là vấn đề cần sớm phải giải quyết.

Những con số “biết nói”

Theo báo cáo của Kiểm toán Nhà nước, số lượng nước sông Mekong từ thượng nguồn về Đồng bằng Sông Cửu Long năm 2020 giảm 157 tỷ m3 (so với năm 2011). Cùng với đó, lượng phù sa bùn cát giảm tương ứng 14 triệu tấn (37%) so với năm 2017, số lượng nước giảm 22 tỷ m3 so với năm 2019 (giảm 157 tỷ m3 so với năm 2011); 1,5 triệu ha đất đã bị suy thoái chất lượng do giảm độ phì.

Mặt khác, tình trạng xâm nhập mặn đã gây thiệt hại đến khoảng trên 500.000 ha diện tích cây trồng và khiến 486.000 hộ bị thiếu nước sinh hoạt; 2.158 vụ sạt lở (thiệt hại ước tính 1.079 tỷ đồng)...

Báo cáo cũng chỉ ta trữ lượng đánh bắt thủy sản tự nhiên sụt giảm 12.644 tấn (ước tính 770 tỷ đồng). Chất lượng nước tại nhiều con sông, kênh, rạch đều ghi nhận tình trạng ô nhiễm và đây cũng là nguyên nhân dẫn đến gần 85.000 ca bệnh của con người (theo thống kê của ngành y tế trong giai đoạn 2016-2020).

Đây là kết quả sau hơn 1 tháng thực hiện các cuộc kiểm toán tại bốn bộ, ngành Trung ương (gồm Ủy ban sông Mekong Việt Nam, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) và 12 tỉnh, thành phố thuộc lưu vực sông Mekong (gồm An Giang, Đồng Tháp, Tiền Giang, Sóc Trăng, Cần Thơ, Trà Vinh, Cà Mau, Hậu Giang, Bến Tre, Gia Lai, Kon Tum và Đắk Lắk), từ ngày 3/3 đến ngày 29/4/2021.

[GMS: Lào đề xuất tăng cường hợp tác phòng dịch, phát triển kinh tế]

Mục tiêu của cuộc kiểm toán là nhằm đánh giá công tác quản lý tài nguyên nước (tài nguyên nước) và việc tuân thủ các cam kết quốc tế của Chính phủ Việt Nam trong quản lý, sử dụng và bảo vệ nguồn nước lưu vực sông Mekong, gắn với việc thực hiện Mục tiêu phát triển bền vững “Đến năm 2030, thực hiện quản lý tổng hợp tài nguyên nước theo lưu vực sông, bao gồm cả nguồn nước xuyên biên giới thông qua hợp tác quốc tế” đồng thời chú trọng đến việc xem xét, xác định các ảnh hưởng, tác động tiêu cực do việc suy giảm nguồn nước sông Mekong tại Việt Nam trong giai đoạn 2016-2020.

Quản lý chưa đồng bộ, thiếu giám sát 

Theo Kiểm toán Nhà nước, các con số trên cho thấy công tác quy hoạch tài nguyên nước chung của cả nước, quy hoạch tài nguyên nước của lưu vực sông và nguồn nước liên tỉnh, nội tỉnh là chưa kịp thời. Công tác giám sát, kiểm soát hoạt động của cơ quan quản lý thiếu sự đồng bộ, chưa đảm bảo kết nối từ Trung ương đến địa phương. 

Trong khi đó, công tác thẩm định, cấp giấy phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả thải vào nguồn nước giai đoạn 2016-2020 chưa đảm bảo theo quy định của Luật Tài nguyên nước (2012) và Luật Bảo vệ môi trường (2014).

Quan ly tai nguyen nuoc song Mekong: Tieng keu cuu tu nhung con so hinh anh 1Chất lượng nước tại nhiều con sông, kênh, rạch đều ghi nhận tình trạng ô nhiễm và đây cũng là nguyên nhân dẫn đến gần 85.000 ca bệnh của con người trong giai đoạn 2016-2020. (Ảnh: Vietnam+)

Tại nhiều địa phương, tình trạng xả nước thải vào nguồn nước có dấu hiệu ô nhiễm vẫn diễn ra trong khi lại chưa có sự thống nhất giữa các đơn vị về biện pháp xử lý, giảm thiểu tác động trong quá trình thẩm định, cấp phép.

Cụ thể hơn, Kiểm toán Nhà nước chỉ ra công tác thẩm định, cấp giấy phép khai thác khoáng sản lòng sông tại một số địa phương chưa xem xét kỹ lưỡng đến khoảng cách tối thiểu so với đường bờ, phạm vi bảo vệ bờ sông và chưa rà soát, tính toán kỹ lưỡng trữ lượng mỏ đồng thời không thực hiện cải tạo phục hồi môi trường, gia cố đường bờ sạt lở sau khai thác.

Thậm chí, một số địa phương quản lý, giám sát khoáng sản tận thu trong quá trình xây dựng thủy điện tại lưu vực sông Mekong còn chưa chặt chẽ.

Thiếu công cụ giải quyết tranh chấp quốc tế

Bên cạnh những bất cập của việc quản lý trong nước, Kiểm toán Nhà nước cũng chỉ ra những khó khăn, vướng mắc trong việc triển khai Hiệp định Mekong 1995 cần phải được các quốc gia trong lưu vực xem xét, nghiên cứu khắc phục, cải thiện nhằm tăng cường hiệu quả hợp tác trong tương lai.

Cụ thể, hiện nay mới có 4/6 quốc gia thuộc lưu vực sông Mekong ký kết Hiệp định Hợp tác phát triển bền vững lưu vực sông Mekong 1995 (MRC). Các văn bản pháp lý (quy chế, sổ tay hướng dẫn, hướng dẫn kỹ thuật…) thì chưa đầy đủ, trong khi các hoạt động phát triển thủy điện dòng nhánh tại các quốc gia thành viên MRC ngày càng nhiều hơn.

Các điều khoản cụ thể để giải quyết tranh chấp, bất đồng giữa các thành viên MRC trong việc sử dụng công bằng và hợp lý nguồn nước lưu vực sông Mekong còn thiếu…

Hơn thế, trong 4 quốc gia thành viên MRC, duy nhất chỉ có Việt Nam tham gia Công ước Liên Hiệp Quốc UNWC/1997 về Luật sử dụng các nguồn nước quốc tế cho các mục đích phi giao thông thủy 1997, điều này gây khó khăn trong việc tìm kiếm các căn cứ tham chiếu chung khi xử lý vấn đề khác biệt hoặc yêu cầu sự can thiệp của Tòa án Công lý quốc tế.

Trên cơ sở kết quả kiểm toán, Kiểm toán Nhà nước đã kiến nghị Ủy ban sông Mekong Việt Nam chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương liên quan đến việc thực hiện Hiệp định Mekong 1995 nghiên cứu, trao đổi, tham mưu cho Thủ tướng Chính Phủ, đề xuất MRC xây dựng các văn bản/hướng dẫn kỹ thuật về giám sát sử dụng nước trên dòng nhánh, duy trì dòng chảy tối thiểu đồng thời đề xuất xây dựng các điều khoản, chế tài cụ thể để giải quyết tranh chấp đối với các bất đồng giữa các quốc gia thành viên trong việc quản lý và sử dụng nước lưu vực sông Mekong.

Kiểm toán Nhà nước đề xuất thúc đẩy các thành viên MRC thực hiện chuyển giao các hệ thống quan trắc (thủy sản, sức khỏe hệ sinh thái, phù sa bùn cát…) và các quốc gia thành viên đưa vào vận hành hiệu quả các hệ thống này, nhằm đảm bảo cơ sở dữ liệu cho quản lý tổng hợp tài nguyên nước trên toàn lưu vực sông Mekong.

Thêm vào đó, các bộ, ngành, địa phương cần ban hành, sửa đổi cơ chế, chính sách theo thẩm quyền nhằm nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý nguồn nước và bảo đảm mục tiêu phát triển bền vững đến 2030 ở mỗi quốc gia thành viên Liên hiệp quốc, trong đó có Việt Nam./.

Hạnh Nguyễn (Vietnam+)