Đây là con số đầy thách thức trong bối cảnh các doanh nghiệp sảnxuất, xuất khẩu Việt Nam đang gặp rất nhiều khó khăn.
Thứ trưởng BộCông Thương Nguyễn Thành Biên đã nhận định như vậy tại “Diễn đàn xúctiến xuất khẩu 2012” do Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công Thương) tổchức ngày 5/4 tại Hà Nội.
Với mục tiêu này,trung bình mỗi tháng Việt Nam phải phấn đấu có giá trị kim ngạch xuấtkhẩu trên dưới 9 tỷ USD.
Từ kết quả thực tế xuất khẩu 3 tháng đầunăm 2012, Thứ trưởng Nguyễn Thành Biên cho rằng, mặc dù kim ngạch xuấtkhẩu đã tăng trưởng 23,6% trong quý I, cao hơn cùng kỳ năm ngoái, nhưnggiá trị tuyệt đối mới chỉ đạt trên 24,52 tỷ USD, trung bình hơn 8 tỷUSD/tháng, nên áp lực tăng giá trị kim ngạch xuất khẩu dồn vào quý IIvà những tháng tiếp theo của năm 2012 rất lớn. Một điều đáng lưu ý làquý I vừa qua kim ngạch xuất khẩu của khu vực 100% vốn trong nước ướcđạt 8,98 tỷ USD, tương đương với kim ngạch xuất khẩu cùng kỳ, còn khuvực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 15,54 tỷ USD, tiếp tục tăng tới 43% sovới cùng kỳ.
Phân tích những nguyên nhânkhách quan ảnh hưởng đến giá trị kim ngạch xuất khẩu chưa đạt như mongmuốn, theo các chuyên gia thương mại, trong quý I/2012 xuất khẩu hànghóa không được lợi về giá, giá bình quân xuất khẩu hầu hết các mặt hàngnông sản giảm, trừ hạt tiêu và gạo. Nhóm khoáng sản có mặt hàng than đágiá xuất khẩu giảm mạnh so với cùng kỳ.
Giá xuất khẩu giảm cũng làm kimngạch xuất khẩu của nhóm hàng nông sản giảm khoảng 330 triệu USD, kimngạch xuất khẩu của than đá giảm 66 triệu USD, tính chung do giá xuấtkhẩu giảm đã làm giảm kim ngạch xuất khẩu khoảng 396 triệu USD so vớicùng kỳ năm ngoái.
Tuy nhiên, nếu tính chung cho cả 2 nhóm hàng nông sảnvà khoáng sản, do sự tăng giá của các mặt hàng dầu thô, xăng dầu và cácloại khoáng sản khác, đã bù đắp được sự sụt giảm xuất khẩu do giảm giácủa nhóm nông sản, nên kim ngạch xuất khẩu giảm do giảm giá chỉ cònkhoảng 13 triệu USD.
Cùng với đó, vềlượng xuất khẩu mặt hàng càphê, do sản lượng giảm vì thời tiếtkhông thuận lợi và cây càphê đã già, tiêu thụ giảm nên lượng càphêxuất khẩu giảm so với cùng kỳ khoảng 58.000 tấn. Mặt hàng gạo do giágạo không tăng, thị trường tiêu thụ gặp khó khăn, tồn kho cao nên lượngxuất khẩu giảm mạnh so với cùng kỳ, giảm 67,4% tương đương với 818.000tấn.
Riêng mặt hàng cao su có lượng xuất khẩu tăng cao, tăng 37,6%, còn lại các mặt hàng nông sản khác lượng tăng nhẹ, tính trong nhóm,lượng xuất khẩu giảm đã làm giảm 196 triệu USD xuất khẩu. Nhóm khoángsản, trừ than đá lượng xuất khẩu tăng, các mặt hàng còn lại lượng xuấtkhẩu đều giảm, tính trong nhóm, lượng xuất khẩu giảm đã làm giảm 87triệu USD kim ngạch xuất khẩu.
Tính chung cho cả 2 nhóm mặt hàng nôngsản và khoáng sản l ượng xuất khẩu giảm đã làm giảm 283 triệu USD kimngạch xuất khẩu. Nh ư vậy, trong qu ý I/2012, tính chung do tăng,giảm về giá và lượng của nhóm mặt hàng nông sản và khoáng sản là nhữngmặt hàng tính được về giá và lượng, thì kim ngạch xuất khẩu đã giảmđi khoảng 296 triệu USD so với cùng kỳ.
B ên cạnhđó còn có hàng loạt nguyên nhân khác. Thứ nhất là do lãi suất ngânhàng cao ảnh h ưởng đến cơ cấu giá thành, sức cạnh tranh của doanhnghiệp Việt Nam. Thứ hai, về thị trường tiêu thụ của các doanh nghiệpFDI đã được tổ chức thành các chuỗi liên hoàn từ sản xuất tới tiêu thụtại thị trường trong nước và nước ngoài nên sản phẩm sản xuất ra đượcđảm bảo có thị trường tiêu thụ theo tỷ lệ bao nhiêu phần trăm tiêu thụtrong nước, bao nhiêu phần trăm tiêu thụ trong khu vực và bao nhiêu phầntrăm tiêu thụ ngoài thế giới.
Đại diện Vụ châu Âu (Bộ Công Thương) cho biết hoạt động của các doanh nghiệp FDIthuộc các Tập đoàn đa quốc gia được xây dựng và thực hiện rất bài bảnkhông chỉ trong chuẩn bị thị trường mà còn trong cả chiến lượcmarketing. Nhiều mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam lại bị phụ thuộc dolàm gia công như dệt may, da giày, khó xây dựng và quảng bá thươnghiệu riêng, trong khi hàng hóa của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nướcngoài có sẵn thương hiệu và thương hiệu đó lại được quảng bá bài bản tạithị trường Việt Nam, khu vực và quốc tế.
Cùng đó, các doanh nghiệp ViệtNam gặp rất nhiều khó khăn trong tiếp cận thị trường, ngay cả với cácthị trường đã được coi là truyền thống, có kim ngạch xuất khẩu lớn như châu Á, châu Âu, châu Mỹ, và với các thị trường mới thì càng khókhăn hơn như như châu Phi, Mỹ Latinh và châu Đại Dương.
Một điểm sáng nổi bật lên trong những tháng đầu năm 2012 làtình hình thực hiện các ưu đ ãi thuế quan trong các khu vực mậu dịchtự do mà Việt Nam tham gia có sự chuyển biến rất tích cực. Vì thế, xuấtkhẩu vào một số thị trường đã tăng trưởng đáng kể, điển hình nhưtrong khu vực ASEAN, Nhật Bản, Hàn Quốc có tỷ lệ sử dụng C/O ưu đãirất cao.
Đơn cử, theo báo cáo của Hải quan Hàn Quốc, hàng hóa của ViệtNam xuất khẩu sang Hàn Quốc sử dụng C/O ưu đãi chiếm tới trên 91% sovới tổng giá trị xuất khẩu vào thị trường này, đạt mức cao nhất trongsố các khu vực mậu dịch tự do mà Việt Nam tham gia. Do vậy, cần tăngcường, nâng cao hơn nữa tỷ lệ sử dụng C/O ưu đãi, khai thác thị trường từ các nhà nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam từ nước ngoài mà họ hiểutriệt để và biết tận dụng ưu đãi thuế quan để đưa hàng của Việt Namthâm nhập thị tr ường nước họ là khuyến cáo được các chuyên gia đưa racho các doanh nghiệp Việt Nam. Đáng chú ý là ngay từ bây giờ các doanhnghiệp không nên chỉ xin các thủ tục cấp C/O ưu đãi mà nên có nhữngđịnh hướng đầu tư lâu dài sản xuất những hàng hóa được hưởng các ưu đãithuế quan trong các khu vực mậu dịch tự do mà Việt Nam tham gia./.