Hai ngày liên tục, hai đơn vị diễn cùng một kịch bản, hai thể loại khác nhau:một kịch hát dân tộc (Đoàn Cải lương Hải Phòng), một kịch nói (Đoàn kịch III Nhàhát Kịch Hà Nội). Và người xem (trong đó có tôi) có cơ hội so sánh và đối chiếugiữa hai bản dựng...
“Trái tim trong trắng” (hay “2000 ngày oan trái”) là kịch bản dựa trên mộtcâu chuyện có thật, một câu chuyện xót xa và nhiều hệ lụy. Chất “bi” trong kịchbản là rất phù hợp với cải lương, và có thể nói, đó là một lợi thế cho Đoàn Cảilương Hải Phòng. Ngược lại, cũng vì dành thời lượng cho những câu ca, kịch bảndành cho cải lương đã phải cắt tỉa đi không ít so với những gì Nhà hát Kịch HàNội thể hiện trên sân khấu.
Mở đầu của cải lương là trữ tình hoàn toàn, sau đó đột nhiên đẩy nhanh bikịch; còn mở của kịch nói là một dấu hiệu oan khuất, là nỗi ám ảnh. Sự bắt đầuđều ổn.
Diễn biến của vở, tuy cải lương bị cắt gọt kịch bản nhiều, nhưng tính cáchvẫn được khắc họa rõ hơn so với bản kịch nói. Số phận nhân vật đầy bi kịch lạiđược nhấn mạnh hơn, trong khi bản kịch nói lại tỏ ra dàn trải, thiếu thuyếtphục. Trong khi bản cải lương tạo được cảm giác “vạch mặt chỉ tên”: tạo ra ánoan là sự vô trách nhiệm của người có chức quyền thì bản kịch nói lại có vẻ “xuêxoa”: tạo ra án oan là anh của nạn nhân (cũng là thủ phạm) chứ không phải cơquan hữu trách. Về mặt nội dung, rõ ràng bản cải lương đã đi đúng hướng.
Các vai công an Hùng, người bạn tù Bốn, thậm chí một vai rất mỏng như vaiChánh án cũng vẫn có tính cách riêng. Trong khi đó, dù có nhiều đất diễn hơn,nhưng các vai đó trong bản kịch nói lại mơ hồ, mờ nhạt. Rất may, vai chính Luântrong bản kịch nói diễn tốt hơn, thể hiện tâm trạng và bi kịch tốt hơn.
Mặc dù phải dùng tên “2000 ngày oan trái” cho đúng chất cải lương, nhưngbản dựng của Đoàn Cải lương Hải Phòng lại bám sát hơn hình ảnh trái tim trongtên gốc. Toàn bộ diễn biến vở, diễn biến của nỗi oan đều sử dụng hình ảnh tráitim bị khuôn chặt. Vai Hoát, gã anh rể cơ hội và hèn hạ, sau câu thoại “Nó lạibảo mình không có tim à? Chả tim đây là gì?” đã... đập lên ngực phải! Điều đócho thấy, mặc dù mang đặc thù riêng của thể loại: thu hút và lấy nước mắt khángiả bằng sự éo le của câu chuyện và những câu ca mùi mẫn, đạo diễn vẫn chú ý đếnchi tiết chứ không ỷ lại.
Với một vở như thế này, yêu cầu đối với cái kết luôn là thể hiện được sựray rứt của người trong cuộc, trực tiếp tạo ra oan sai và để lại một dấu chấmthan (!) trong lòng người xem. Bản cải lương làm được điều đó. Còn bản kịch nói,việc “bày biện” diễn viên tham gia vào cảnh kết cứ như chỉ để sắp sẵn đội hìnhsao cho màn chào khán giả được đầy đủ và ngay khi kết thúc. Chính vì vậy, kếtcủa bản kịch nói bị vội và hẫng, không để lại được một chút dư âm gì trong lòngkhán giả.
Tôi thích bản dựng cải lương hơn. Nhưng có lẽ, cả hai vở cũng chỉ dừng ởmức giữa 7.5 và 8. Việc đổi tên đã cho Đoàn Cải lương Hải Phòng nhằm tới mụctiêu thể hiện sự oan trái là chính và vẫn có chú ý khai thác hình ảnh trái tim.Trong khi đó, Nhà hát kịch Hà Nội lại cũng chỉ thể hiện được nỗi oan, mà chưathể hiện được thông điệp “trong trắng” (của nhân vật) có sẵn trong tên vở. Nếucần phải chọn một trong hai, tôi chọn bản cải lương.
Nói thêm một chút, hình ảnh hoa mận trắng mong manh như điềm báo của taiương đổ xuống đã không được các đạo diễn khai thác. Tôi rất tiếc. Đối với riêngtôi, hình ảnh “Lòng cha dẫu héo khô cành mận dại/Nhựa âm thầm buốt trắng nhữngchùm hoa” trong thơ anh Vũ luôn thật đẹp và đầy ám ảnh. Lẽ ra trong một vở “thờisự” như thế này, những chi tiết trữ tình và sâu sắc hiếm hoi cần phải được tậndụng chứ không thể để trôi qua uổng phí. Hình ảnh người cha già yếu thương con,nhớ đến từng sở thích nhỏ của con chính là một dấu mốc khắc khoải khiến cho nhânvật không chần chừ nhận tội để cứu cha.
Nhưng thôi, cũng không thể đòi hỏi quá nhiều được. Tôi biết điều đó mà.Bài thơ “Nói với con cuối năm” mà tôi trích hai câu ở trên đã kết thúc như sau:“... rồi cha con ta sẽ tìm được con đò/đi sang bên ấy”. Dù trong bản cải lươnghay kịch nói, cuối cùng nhân vật chịu oan cũng đã tìm được “con đò”. Thế là mừngcho anh lắm rồi!
Lưu Sơn Minh (Vietnam+)