Theo đó, nămnhiệm vụ và giải pháp chủ yếu được đưa ra trong Nghị quyết là tăngcường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, gắn các mục tiêu, chỉtiêu, nhiệm vụ phát triển khoa học và công nghệ với các mục tiêu, nhiệmvụ phát triển kinh tế-xã hội của thành phố, của từng cấp, từng ngành;Tiếp tục đổi mới toàn diện hệ thống tổ chức, cơ chế quản lý, hoạt độngkhoa học và công nghệ theo hướng hội nhập quốc tế.
Ưu tiên các nhiệm vụứng dụng, tiếp thu đổi mới công nghệ nhằm tạo ra sản phẩm có sức cạnhtranh cao trên thị trường; Tăng cường tiềm lực khoa học, xây dựng độingũ cán bộ khoa học và công nghệ có trình độ cao, ngang tầm các nước cótrình độ phát triển khá trong khu vực;
Phát triển thị trường khoa học vàcông nghệ, hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ,thúc đẩy, kích cầu thị trường khoa học và công nghệ, đồng thời xây dựnglộ trình đổi mới công nghệ đối với các lĩnh vực sản xuất các sản phẩmtrọng điểm, sản phẩm chủ lực của thành phố; Chủ động hợp tác quốc tế vềkhoa học và công nghệ, tranh thủ sự giúp đỡ, hỗ trợ của các nước, các tổchức quốc tế và trung ương trong các lĩnh vực đào tạo, quản lý, nghiêncứu khoa học, ứng dụng, đổi mới công nghệ.
Mụctiêu của Nghị quyết là xây dựng và phát triển Hải Phòng đến năm 2030sẽ trở thành trung tâm ứng dụng, chuyển giao khoa học công nghệ của vùngDuyên hải Bắc Bộ và của cả nước trong lĩnh vực khoa học về biển, khoahọc môi trường.
Trong đó, phấn đấu tỷ lệ giá trị sản phẩm công nghệ caovà sản phẩm ứng dụng công nghệ cao đạt 30% trong tổng giá trị sản xuấtcông nghiệp, 45% tổng GDP của thành phố vào năm 2015; tập trung pháttriển nhân lực khoa học và công nghệ có trình độ cao, đội ngũ chuyên giagiỏi, cán bộ khoa học và công nghệ đầu đàn. Thành phố phấn đấu đến năm2015, số cán bộ có trình độ trên đại học đạt 35% và 40% vào năm 2020./.