Ân hạn thuế tăng tính cạnh tranh
Theo Luật quản lý thuế hiện hành số 78/2006/QH11 cho phép ân hạn thuế 275 ngàyđối với hàng hóa nhập khẩu là vật tư, nguyên vật liệu để sản xuất, xuất khẩu kểtừ ngày đăng ký tờ khai hải quan. Trường hợp đặc biệt, thời hạn nộp thuế có thểkéo dài hơn 275 ngày để phù hợp với chu kỳ sản xuất, dự trữ vật tư của doanhnghiệp. Đối với hàng hóa nhập khẩu khác, doanh nghiệp phải nộp xong thuế khinhận hàng.
Tại tờ trình về Dự án Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế,Chính phủ kiến nghị Quốc hội sửa đổi chính sách ân hạn thuế đối với hàng hóaxuất khẩu, nhập khẩu. Theo đó, người nộp thuế phải nộp thuế trước thời điểmthông quan, giải phóng hàng và áp dụng ân hạn nộp thuế chỉ khi có bảo lãnh củatổ chức tín dụng (275 ngày đối với nguyên vật liệu để sản xuất hàng xuất khẩu,15 ngày đối với hàng hóa tạm nhập tái xuất, 30 ngày đối với trường hợp khác).Đến ngày cuối cùng của thời hạn bảo lãnh ghi trên thư bảo lãnh nếu người nộpthuế chưa nộp tiền thuế, tiền chậm nộp, tổ chức nhận bảo lãnh phải nộp đủ tiềnthuế và tiền chậm nộp theo mức 0,07%/ngày tính trên số tiền thuế chậm nộp thaycho người nộp thuế.
Tuy nhiên, theo ý kiến của Hiệp hôi các ngành hàng lớn như thủy sản, dệt may…cho rằng, việc bãi bỏ chính sách ân hạn thuế nêu trên sẽ gây thiệt hại lớn chodoanh nghiệp, giảm năng lực cạnh tranh nhất là đối với đơn vị nhập khẩu để sảnxuất xuất khẩu. Việc tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu trong nhiều năm qua có sựđóng góp không nhỏ của việc nhập khẩu nguyên liệu để chế biến xuất khẩu.
Công ty Minh Phú (doanh nghiệp xuất khẩu tôm) nêu ý kiến, mặc dù doanh nghiệp cónguồn nuôi tôm lớn cùng với việc mua nguyên liệu tôm trong nước nhưng không đủđể phục vụ sản xuất xuất khẩu theo hợp đồng ký kết. Để đảm bảo đủ nguyên liệuphục vụ sản xuất, năm 2011, doanh nghiệp đã nhập khẩu gần 3.800 tấn tôm với trịgiá trên 4,2 triệu USD.
Theo Công ty Havuco (một doanh nghiệp xuất khẩu cá ngừ) ở Khánh Hòa, việc tăngtrưởng kim ngạch xuất khẩu của đơn vị trong thời gian qua có sự đóng góp khôngnhỏ từ việc nhập nguyên liệu để chế biến xuất khẩu. Chính sách ân hạn thuế đãgóp phần giúp công ty tiếp tục mở rộng sản xuất. Doanh nghiệp đã xây dựng đượchai nhà máy chế biến mới, doanh số xuất khẩu đạt dưới 5 triệu USD trước đây nayđã lên tới 65 triệu USD.
Theo tính toán của Hiệp hội các ngành hàng, hàng năm, kim ngạch xuất khẩu ViệtNam gần 100 tỷ USD, giá trị nguyên vật liệu nhập khẩu để sản xuất, xuất khẩuchiếm khoảng 50%. Tiền thuế từ lượng hàng nhập khẩu đạt trên dưới 10 tỷ USD/năm.Ý kiến của cộng đồng doanh nghiệp cho rằng, đây là con số quá lớn so với khảnăng tài chính của doanh nghiệp trong cả nước.
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cũng lo ngại về thủ tục hành chính phát sinhkèm theo nếu chính sách này được ban hành như thủ tục xác nhận đã nộp thuế, bảolãnh, thế chấp thuế cũng như thủ tục liên quan đến vấn đề hoàn thuế.
Trước tác động này, cộng đồng doanh nghiệp đều cho rằng họ hoàn toàn ủng hộ cácchủ trương, chính sách khuyến khích phát triển sản xuất xuất khẩu cũng như biệnpháp quản lý phù hợp để tránh trường hợp doanh nghiệp trốn thuế, chây ỳ nộpthuế. Tuy nhiên, các Hiệp hội ngành hàng kiến nghị Quốc hội và Chính phủ xemxét, đánh giá toàn diện những lợi ích mà hàng sản xuất xuất khẩu và gia côngxuất khẩu đem lại so với hàng nhập khẩu kinh doanh trong nước để tránh đánh đồngcách quản lý giữa hai hình thức trên.
Sửa đổi để chống thất thu
Trên thực tế, thời gian qua, quy định về thời hạn nộp thuế xuất nhập khẩu đãgiúp doanh nghiệp chủ động và linh hoạt sử dụng các luồng tiền để nộp thuế. Tuynhiên, do cơ chế thông thoáng trong việc thành lập doanh nghiệp dẫn tới tìnhtrạng doanh nghiệp có thể không thường xuyên thực hiện xuất khẩu, nhập khẩunhưng lợi dụng chính sách để chây ỳ nợ thuế, sau đó bỏ trốn hoặc tự giải thể.
Theo tính toán của Bộ Tài Chính, năm 2011 có 311.943 lô hàng nhập khẩu nguyênliệu sản xuất xuất khẩu và 5.752 hợp đồng gia công xuất khẩu. Các cơ quan quảnlý đã áp dụng đầy đủ các biện pháp cưỡng chế thu hồi nợ thuế nhưng tính đến ngày30/9 vừa qua vẫn còn 5.784 lô hàng nhập khẩu nguyên liệu sản xuất xuất khẩu và961 hợp đồng gia công xuất khẩu chưa thanh khoản tương ứng với số tiền thuế nợquá hạn khoảng 1.497 tỷ đồng; trong đó, nợ thuế quá hạn cưỡng chế (nợ quá 90ngày kể từ ngày hết thời hạn nộp thuế) khoảng 1.100 tỷ đồng.
Ông Hoàng Việt Cường, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan cho biết Luật quảnlý thuế lần này sửa đổi một số nội dung trong đó thay đổi một cách căn bản vấnđề ân hạn thuế đối với hàng xuất nhập khẩu nói chung. Việc sửa đổi lần này nhằmnâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế, khắc phục tình trạng chây ỳ. Bên cạnhđó, việc xây dựng luật cũng đảm bảo sự bình đẳng giữa hàng nhập khẩu kinh doanhvới hàng sản xuất xuất khẩu. cũng như khuyến khích doanh nghiệp sử dụng nguyênliệu trong nước.
Việc sửa chính sách ân hạn thuế đã tính tới vấn đề chia sẻ khó khăn với doanhnghiệp thông qua cơ chế thực hiện trong thời gian bảo lãnh nguyên liệu nhập khẩuđể sản xuất xuất khẩu, doanh nghiệp không phải trả lãi chậm nộp. Kinh nghiệmquốc tế cho thấy đa số các nước không cho nợ thuế đối với hàng hóa nhập khẩu,phải nộp thuế trước khi nhận hàng (Thái Lan, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Campuchia,Lào...); một số nước cho chậm nộp thuế nhưng phải có bảo lãnh (Anh), hoặc chonộp chậm với điều kiện có tài khoản do cơ quan Hải quan quản lý để đảm bảo việcnộp thuế (New Zealand).
Theo Tổng cục Hải quan, việc sửa đổi quy định về thời hạn nộp thuế đối vớinguyên liệu nhập khẩu để sản xuất hàng hóa xuất khẩu như Dự thảo Luật sửa đổi bổdung một số điều của Luật Quản lý thuế khi doanh nghiệp thực hiện bảo lãnh cómức độ ảnh hưởng không lớn.
Số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan cho thấy khoảng thời gian từ khi nhậpkhẩu nguyên liệu đến khi thực xuất khẩu sản phẩm, hầu hết các lô hàng đều khôngđến 275 ngày (thông thường là từ 45-90 ngày). Nếu tính trên cơ sở kim ngạch nhậpkhẩu nguyên liệu năm 2011, số tiền bảo lãnh đối với thuế nhập khẩu nguyên phụliệu dệt may, da giày, bông sợi trong thời gian 90 ngày, giá thành nguyên liệunhập khẩu tăng 0,013% (nếu phí bảo lãnh là 0,05%/tháng); tăng 0,075% (nếu phíbảo lãnh là 0,29%/tháng, loại cao nhất không có đảm bảo).
Số tiền phí bảo lãnh đối với thuế nhập khẩu nguyên phụ liệu thủy sản trong thờigian 45-50 ngày, giá thành nguyên liệu nhập khẩu tăng 0,01% (nếu phí bảo lãnh là0,05%/tháng); tăng 0,058% (nếu phí bảo lãnh là 0,29%/tháng)./.