Sau hơn 30 năm phát triển, kể từ ngày thống nhất đất nước, đến nay, ViệtNam đã có những cơ sở ban đầu để phát triển ngành công nghiệp hàng không.
Đó làhệ thống Luật Hàng không, là hãng hàng không quốc gia đã trở thành hãng hàngkhông có tên tuổi, uy tín trong khu vực, hệ thống cảng hàng không - sân bay đãđược quy hoạch, hệ thống quản lý điều hành bay đã được giành lại và điều hànhthành công FIR Hồ Chí Minh, một số cơ sở bảo dưỡng, đại tu đã hình thành. Trongđó các cơ sở của Vietnam Airlines đã bảo dưỡng đến C-check 4y và 12y cho hầu hếtcác loại máy bay đang khai thác...
Tuy nhiên, hình thành một nền công nghiệp hàng không vớitầm cỡ quốc tế, đủ sức tham gia vào dây chuyền toàn cầu sản xuất và cung ứng củacác nhà sản xuất lớn, đóng góp choGDP của đất nước vẫn đang là ước mơ của rấtnhiều thế hệ cán bộ ngành hàng không, và phù hợp với chủ trương của Đảng, Nhànước, xây dựng Việt Nam cơ bản thành nước công nghiệp vào năm 2020.
Ngày 10/4/2009, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 123/TB-VPCP, giaoTổng Công ty Hàng không Việt Nam (Vietnam Airlines) phối hợp các cơ quan hữu quan xâydựng định hướng dài hạn, tổng thể phát triển ngành công nghiệp hàng không ViệtNam.
Trong đó, cách tiếp cận mới ở tầm quốc gia, với chuẩn mực quốc tế được coi là một mấu chốt để xây dựng ngành công nghiệp hàng không của Việt Nam xứng với tầm cỡ quốctế.
Có nghĩa làtrước hết phải xây dựng một chính sách quốc gia về công nghiệp hàng không và mộtnền khoa học hàng không. Trong đó định nghĩa rõ ngành công nghiệp hàng không làmột ngành kinh tế-kỹ thuật-công nghệ và dịch vụ, một bộ phận quan trọng của nềncông nghiệp Việt Nam hiện đại với 4 trụ cột chính là công nghiệp vận tảihàng không; công nghiệp sản xuất, lắp ráp, đại tu, bảo dưỡng máy bay, độngcơ; hệ thống hạ tầng kỹ thuật các cảng hàng không sân bay, các trung tâm trungchuyển hàng không lớn cùng các dịch vụ hàng không và phi hàng không; hệ thốngđào tạo hàng không cấp quốc gia.
Để triển khai thực hiện đề án này, Vietnam Airlines đã có những bước đi cụthể theo một lộ trình. Tháng 10/2009, Vietnam Airlines đã ký bản ghi nhớ với Tậpđoàn Hàng không Vũ trụ châu Âu và Airbus đưa Việt Nam vào chuỗi sản xuất và cungứng toàn cầu của EADS và triển khai trước hết các hạng mục sản xuất và lắp rápmột số linh kiện máy bay A321 tại Việt Nam, sau đó sẽ là các cơ sở sản xuất, lắpráp các loại máy bay khác tại Việt Nam.
Đồng thời, Vietnam Airlines còn đàm phán với Mishubishi, với Boeing, cácnhà sản xuất động cơ và công ty kỹ thuật có uy tín khác trên thế giới để hìnhthành các liên doanh trong lĩnh vực sản xuất, lắp ráp, bảo dưỡng, đại tu máybay, động cơ, linh kiện hàng không.
Mục tiêu được đặt ra là trở thành nhà sảnxuất cung cấp số 1 (tier1) về linh kiện, bộ phận cho các máy bay thương mại vàonăm 2014, tiến tới thiết kế chế tạo máy bay nhỏ phục vụ nhu cầu kinh tế, đưaViệt Nam gia nhập bản đồ công nghiệp hàng không thế giới; đáp ứng 100% nhu cầubảo dưỡng, sửa chữa đại tu thân, cánh các máy bay khai thác và động cơ vào năm2015 đến 2020, cung cấp khoảng 80% nhu cầu sửa chữa đại tu các thiết bị hàngkhông khác vào năm 2016; cung cấp toàn bộ dịch vụ cung ứng phụ tùng vật tư chocác hãng hàng không trong nước và Đông Dương.
Về lĩnh vực hạ tầng kỹ thuật, mục tiêu là xây dựng hệ thống cảng hàngkhông sân bay hiện đại, với 2 trung tâm trung chuyển hàng không quốc tế ở Hà Nộivà Thành phố Hồ Chí Minh.
Trong đó, cảng hàng không Long Thành sẽ được xây dựngthành trung tâm trung chuyển quốc tế đa phương tiện, với lưu lượng thông qua80-100 triệu pax/năm; đuổi kịp và quyết tâm vượt các trung tâm khác ở Bangkok,Singapore, Hongkong (Trung Quốc)…
Đối với lĩnh vực đào tạo, mục tiêu được đặt ra là xây dựng hệ đại học hàng không, các trườngđào tạo phi công cơ bản, trường đào tạo chuyên ngành hàng không và trường đàotạo nghề hàng không…, đáp ứng 100% nhu cầu về phi công và kỹ sư của Việt Nam.
Theo lộ trình của Vietnam Airlines, đến năm 2020, sẽ hình thành chuỗi cáctrung tâm công nghiệp hàng không ở 3 miền. Miền Bắc là khu vực xung quanh cảnghàng không Nội Bài; miền Trung là khu vực gần sân bay Đà Nẵng, Chu Lai; phía Namlà khu vực cảng hàng không Long Thành.
Đến năm 2020, toàn bộ ngành công nghiệphàng không sẽ phấn đấu có tổng thu nhập khoảng 12-15 tỷ USD, chiếm khoảng 5-8%GDP của Việt Nam, và phấn đấu đạt 10% vào những năm tiếp theo.
Xây dựng một nền công nghiệp hàng không của Việt Nam là chủ trương củaĐảng và Nhà nước, là tâm huyết và mơ ước của các thế hệ cán bộ, các nhà khoahọc, nhân viên trong lĩnh vực hàng không, vừa là mục tiêu, vừa là con đường phảiđi qua để góp phần xây dựng nước Việt Nam công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Năm2010 sẽ là một năm bản lề có ý nghĩa chiến lược rất quan trọng với những bước điban đầu để thực hiện ước mơ táo bạo này./.
N.P (Vietnam+)