Đảm bảo nguyên liệu phối trộn xăng sinh học E10: Cần chính sách dài hạn

Khi có lộ trình sử dụng xăng E10 trên toàn quốc từ 1/6, nếu cả 6 nhà máy cồn nhiên liệu sinh học hoạt động hết công suất thì mới chỉ đáp ứng được 40% nhu cầu Ethanol cho pha chế xăng E10.
Theo lộ trình, từ 1/6/2026, xăng sinh học E5, E10 sẽ thay thế xăng khoáng. (Ảnh: Trần Việt/TTXVN)

Với lộ trình triển khai xăng sinh học E10 trên toàn quốc từ ngày 1/6/2026 tới đây, việc đảm bảo nguồn cung Ethanol đầu vào cho pha chế rất cần có các chính sách dài hạn và cân bằng giữa nhập khẩu và thúc đẩy sản xuất trong nước.

Sẵn sàng cho lộ trình thay thế xăng khoáng

Tại Tọa đàm “Chủ động nguồn nguyên liệu, sẵn sàng cho lộ trình phối trộn và sử dụng nhiên liệu sinh học” do Báo Công Thương tổ chức chiều 14/3, đại diện các hiệp hội liên quan và doanh nghiệp đều cho rằng việc phát triển và sử dụng nhiên liệu sinh học không chỉ là một lựa chọn kỹ thuật mà là một quyết định chiến lược góp phần đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, nhất là trong bối cảnh thị trường năng lượng thế giới liên tục biến động, đặc biệt là xung đột tại Trung Đông ngày càng diễn biến phức tạp.

Chuyên viên chính Đỗ Minh Quân, Phòng Quản lý kinh doanh xăng dầu và khí-Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước-Bộ Công Thương cho biết nhu cầu Ethanol cần thiết để phối trộn xăng sinh học E10 sẽ vào khoảng 1,1 triệu m3/năm.

Hiện Việt Nam có 6 nhà máy sản xuất cồn nhiên liệu sinh học nhưng chỉ có 3 nhà máy hoạt động hết công suất. Khi có lộ trình sử dụng xăng E10 trên toàn quốc từ 1/6 tới đây, nếu cả 6 nhà máy hoạt động hết công suất thì mới chỉ đáp ứng được 40% nhu cầu Ethanol cho pha chế xăng sinh học E10, phần còn thiếu sẽ phải nhập khẩu.

Theo Tiến sỹ Bùi Ngọc Bảo - Chủ tịch Hiệp hội Xăng dầu Việt Nam, với lộ trình triển khai xăng sinh học E10, Việt Nam trước mắt cần nhập khẩu từ 700.000 đến 1 triệu m3 Ethanol/năm (khoảng 70-80% sản lượng Ethanol) phục vụ pha chế cho pha chế xăng sinh học E10. Việc nhập khẩu này có thể từ các nước Brazil, Mỹ…

Một điểm bán xăng của Petrolimex. (Ảnh: Đức Duy/Vietnam+)

Hiện các thương nhân đầu mối lớn như Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex), Tổng Công ty Dầu Việt Nam (PVOIL), Saigon Petro, Tổng Công ty Xăng dầu Quân đội… đã sẵn sàng hạ tầng tồn trữ Ethanol cũng như hệ thống pha chế xăng E10.

Ông Đỗ Văn Tuấn - Chủ tịch Hiệp hội Nhiên liệu sinh học Việt Nam, cũng cho biết thực tế là toàn bộ nhu cầu Ethanol cho pha chế xăng sinh học E10 của Việt Nam trong 1 năm cũng chỉ bằng sản lượng Ethanol của Mỹ trong một ngày nên vấn đề về nguồn cung Ethanol nhập khẩu không đáng lo ngại.

Bên cạnh đó, việc nhập khẩu Ethanol từ Mỹ còn có lợi thế là tuyến đường vận tải không phụ thuộc vào khu vực Trung Đông. Ngoài ra việc nhập khẩu Ethanol từ Mỹ còn giúp cân bằng cán cân thương mại giữa hai nước.

Về phía thương nhân đầu mối đang chiếm thị phần xăng dầu lớn nhất tại Việt Nam, ông Hồ Ngọc Linh - Phó Trưởng phòng Kỹ thuật xăng dầu-Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex), cho biết với nhu cầu Ethanol của Petrolimex từ 45-50 nghìn m3/tháng để phục vụ nhu cầu pha chế xăng sinh học E10 trong khi các nhà máy trong nước mới đáp ứng được một phần nhu cầu đầu vào, ngay từ đầu tháng Ba này, Petrolimex đã chủ động đàm phán các hợp đồng nhập khẩu Ethanol ngắn hạn, dài hạn với các đối tác từ Mỹ, Hàn Quốc, Singapore.

Đặc biệt, với việc thí điểm bán xăng E10 từ tháng 8/2025 tới nay, Petrolimex đã xây dựng được quy trình kiểm soát chất lượng xăng E10 nghiêm ngặt và cho đến nay không có phản ánh nào về chất lượng xăng E10 từ phía người tiêu dùng.

Để ổn định nguồn nhập khẩu và giảm chi phí

Theo ông Bùi Ngọc Bảo, mặc dù việc nhập khẩu Ethanol từ Mỹ khá thuận lợi nhưng quãng đường khá xa nên để đảm bảo hiệu quả, cần nhập khẩu bằng các tàu chuyên dụng cỡ lớn. Thực tế là các nhà cung cấp xăng dầu nói chung và Ethanol tại Mỹ thường vận chuyển hàng vào các kho ngoại quan tại Hàn Quốc và Singapore để trung chuyển cho thị trường châu Á.

Với Việt Nam, để đảm bảo nguồn cung ổn định, Hiệp hội Xăng dầu Việt Nam kiến nghị Bộ Công Thương nghiên cứu chính sách thuận lợi cho nhà cung cấp nước ngoài đưa hàng sang Việt Nam và được gửi xăng dầu, Ethanol ở kho ngoại quan mà không phải mất thuế nhà thầu 1% khi đưa hàng ra khỏi kho ngoại quan như hiện nay.

Các doanh nghiệp cần Ethanol chỉ cần ra kho ngoại quan lấy nguyên liệu, từ đó giúp giảm chi phí cho doanh nghiệp, giảm giá bán xăng E10 cho người tiêu dùng, ông Bùi Ngọc Bảo đề xuất.

Cùng quan điểm này, Chủ tịch Hiệp hội Nhiên liệu sinh học Việt Nam cho biết với sự tham gia của điện năng trong phương tiện giao thông vận tải, nhu cầu xăng dầu hàng năm sẽ tăng từ 3-5%/năm nên nhu cầu Ethanol cho pha chế E10 là ổn định.

Tuy nhiên trừ một số “ông lớn” như Petrolimex, PVOIL, Saigon Petro hay MIPEC đã xây dựng được cơ sở pha chế và nhiên liệu chuẩn bị, còn lại các doanh nghiệp nhỏ hơn lại đang rất khó khăn trong quyết định nguồn cung nhập khẩu, nhất là khi giá xăng dầu thế giới biến động mạnh. Vì vậy, Nhà nước cần thiết kế chính sách tạo nguồn khả thi để các công ty xăng dầu có thể đánh giá được hiệu quả tài chính của pha chế E10, từ đó mạnh dạn nhập khẩu Ethanol để pha chế xăng E10.

Theo lộ trình, từ 1/6/2026, xăng sinh học E5, E10 sẽ thay thế xăng khoáng. (Ảnh: Trần Việt/TTXVN)

Để giải quyết bài toán hiệu quả tài chính trong pha chế E10, Chủ tịch Hiệp hội Xăng dầu Việt Nam cho rằng khi xăng sinh học E10 thay thế cho xăng khoáng vào 1/6 tới đây, phải có chính sách ổn định dài hạn cho doanh nghiệp.

Việc sớm ban hành Nghị định mới về kinh doanh xăng dầu thay thế các nghị định trước đây không còn phù hợp là rất cấp bách để doanh nghiệp có thể chủ động tạo nguồn, tính toán hiệu quả, từ đó thực hiện đảm bảo nguồn cung cho thị trường trong mọi tình huống.

Bên cạnh đó, Nhà nước cần có chính sách ổn định về thuế bảo vệ môi trường, thuế tiêu thụ đặc biệt phù hợp với lộ trình triển khai xăng E10 trên toàn quốc.

Ngoài ra, do các sản phẩm xăng dầu đều phải có quy chuẩn kỹ thuật trong khi Ethanol được nhập từ nhiều nguồn khác nhau nên có chỉ tiêu phù hợp, có chỉ tiêu lại không phù hợp trong khi xăng khoáng có quy chuẩn tương đối ngặt nghèo nên khi pha chế sẽ có những vấn đề phát sinh về quy chuẩn kỹ thuật với sản phẩm. Vì vậy, việc sớm ban hành các quy chuẩn kỹ thuật với xăng sinh học là rất quan trọng, chủ tịch Bùi Ngọc Bảo nhấn mạnh.

Xây dựng chuỗi liên kết sản xuất trong nước

Cùng với việc nhập khẩu Ethanol, việc có các chính sách thúc đẩy việc sản xuất Ethanol ở trong nước là rất cần thiết để giảm bớt sự phụ thuộc vào nước ngoài, góp phần thúc đẩy ngành công nghiệp trong nước phát triển, từ đó đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia.

Chủ tịch Hiệp hội Nhiên liệu sinh học Việt Nam cho biết phải mất một vài năm để hình thành nên ngành sản xuất Ethanol. Tại Việt Nam, tính liên kết trong chuỗi cung ứng Ethanol sẽ là động lực để thúc đẩy việc sản xuất Ethanol.

Thực tế cho thấy Công ty đường Thành Công đã xây dựng được vùng trồng lớn, biến nông dân trồng mía thành “cổ đông” nhỏ hoặc các công nhân của nhà máy sản xuất đường nên nông dân yên tâm đầu tư vào vùng trồng, vào công nghệ và từng bước nâng cao năng suất. Đây cũng là mô hình phổ biến trong sản xuất Ethanol tại Mỹ - nơi các nông dân trồng ngô có cổ phần tại các nhà máy sản xuất Ethanol, từ đó cung cấp nguyên liệu ổn định cho các doanh nghiệp sản xuất.

Để thúc đẩy sản xuất Ethanol trong nước, Hiệp hội Nhiên liệu sinh học Việt Nam đang kết nối các nhà máy sản xuất Ethanol với chính quyền địa phương để quy hoạch vùng trồng sắn, trồng ngô ổn định cung cấp cho các nhà máy.

Ông Phạm Văn Tuấn - Giám đốc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Nhà Xanh Việt Nam cho biết để sản xuất Ethanol, Công ty đang mua 100% sắn của Việt Nam từ các thương nhân đầu mối trong nước; mua một phần ngô của Việt Nam và một phần ngô nhập khẩu từ Argentina, Mỹ, Brazil.

Hiện nguồn ngô luôn sẵn có và chất lượng ổn định nhưng sắn chỉ có 2 vụ/năm nên biến động cả về nguồn cung và giá theo vụ. Vì vậy, bên cạnh việc mua sắn tích trữ, doanh nghiệp đã linh hoạt trong kế hoạch mua ngô và sắn đan xen để đảm hiệu quả sản xuất và nguồn cung nguyên liệu ổn định.

Để thúc đẩy sản xuất Ethanol trong nước, Việt Nam cần xác định các vùng trồng trọng điểm ngô, sắn, quy hoạch gần các nhà máy Ethanol cũng như có chính sách hỗ trợ thuế thu nhập doanh nghiệp trong 5-10 năm.

Đặc biệt, Nhà nước cần tính toán cân bằng giữa lợi ích nhập khẩu trước mắt và sản xuất trong nước lâu dài để có mức thuế nhập khẩu Ethanol hợp lý, theo đó, nên giữ thuế nhập khẩu Ethanol ở mức 5% để bảo vệ nhà sản xuất trong nước.

Ngoài ra, việc xác định biên lợi nhuận phù hợp cho nhà sản xuất cồn sinh học Ethanol là rất quan trọng thay vì cơ chế đấu thầu Ethanol hiện nay, ông Phạm Văn Tuấn kiến nghị.

Đại diện Bộ Công Thương cho biết Bộ đang phối hợp với các địa phương, doanh nghiệp sản xuất Ethanol trong việc khôi phục công suất sản xuất Ethanol trong nước. Khi có thị trường thì việc khôi phục lại các nhà máy là khả thi, dần dần chủ động hơn nguồn cung Ethanol trong nước. Về giải pháp trung hạn, Bộ Công Thương xây dựng chính sách hỗ trợ doanh nghiệp trong nước về công nghệ để nâng cao công suất sản xuất Ethanol.

Về dài hạn, Bộ Công Thương sẽ kiến nghị quy hoạch, mở rộng vùng nguyên liệu trong nước tạo chuỗi cung ứng nguyên liệu đầu vào cho các nhà máy sản xuất Ethanol từ nông dân trồng nguyên liệu ngô, sắn đến doanh nghiệp sản xuất Ethanol và doanh nghiệp pha chế xăng sinh học, đại diện Bộ Công Thương cho biết./.

(TTXVN/Vietnam+)

Tin cùng chuyên mục