Loay hoay khâu lắp ráp, ôtô nội khó lòng cạnh tranh với xe ngoại

Ngành sản xuất, lắp ráp ôtô trong nước vẫn chưa đạt được tiêu chí của ngành sản xuất ôtô thực sự, phần lớn mới ở mức độ lắp ráp đơn giản, dây chuyền sản xuất chủ yếu chỉ là hàn, sơn, lắp ráp, kiểm tra
Ảnh chỉ mang tính minh họa. (Nguồn: TTXVN)

Sản lượng ôtô trong nước có mức tăng trưởng khá nhanh trong thời gian qua, một số loại sản phẩm đã xuất khẩu sang thị trường Lào, Campuchia, Myanmar, Trung Mỹ… Tuy vậy, sau nhiều năm phát triển, ngành công nghiệp ôtô Việt Nam vẫn chưa tạo được sự đột phá, phần lớn mới ở mức độ lắp ráp đơn giản.

Chính những tồn tại trên đã đẩy giá thành ôtô sản xuất trong nước lên cao, thậm chí khó có thể cạnh tranh với các sản phẩm nhập ngoại.

Đây cũng là nội dung chính được đưa ra tại Hội thảo: Công nghiệp ôtô và cơ hội phát triển mạng lưới sản xuất tại Việt Nam do Bộ Công Thương tổ chức sáng 12/10, tại Hà Nội.

[Việt Nam nên ưu tiên lựa chọn phát triển ngành công nghiệp nào]


Tỷ lệ nội địa hóa rất thấp

Tính đến hết năm 2016, trong nước có khoảng 173 doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô, trong đó có 56 doanh nghiệp sản xuất xe từ linh kiện rời, 117 doanh nghiệp sản xuất từ xe cơ sở, với tổng công suất lắp ráp thiết kế khoảng 500.000 xe/năm, trong đó khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm khoảng 47%, doanh nghiệp trong nước khoảng 53%.

Có nhiều hãng lớn có hoạt động sản xuất, lắp ráp trong nước (Toyota, Hyundai, Kia, Mazda, Honda, GM, Chevrolet, Ford, Mitsubishi, Nissan, Suzuki, Isuzu, Mercedes-Benz, Hino) đáp ứng khoảng 70% nhu cầu xe dưới 9 chỗ trong nước, với tổng sản lượng của thị trường xe du lịch khoảng 210 ngàn xe/năm trong năm 2016. Một số doanh nghiệp nội địa đã tham gia sâu vào chuỗi sản xuất ôtô toàn cầu.

Ông Phạm Tuấn Anh, Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp (Bộ Công Thương) cho biết, các chủng loại xe tải nhẹ dưới 7 tấn, xe khách từ 25 chỗ ngồi trở lên, xe chuyên dụng sản xuất trong nước đã đạt tỷ lệ nội địa hóa cao và đạt mục tiêu đề ra, đáp ứng cơ bản thị trường nội địa.

Cụ thể, xe tải đến 7 tấn đáp ứng khoảng 70% nhu cầu, với tỷ lệ nội địa hóa trung bình trên 20%; xe khách từ 10 chỗ ngồi trở lên, xe chuyên dụng đáp ứng khoảng 90% nhu cầu, với tỷ lệ nội địa hóa đạt từ 45% đến 55% vượt chỉ tiêu so với qui hoạch.

Mặc dù vậy, theo ông Tuấn Anh, ngành sản xuất, lắp ráp ôtô trong nước vẫn chưa đạt được tiêu chí của ngành sản xuất ôtô thực sự, phần lớn mới ở mức độ lắp ráp đơn giản, dây chuyền sản xuất chủ yếu chỉ gồm 4 công đoạn chính là hàn, sơn, lắp ráp, kiểm tra.

​Hơn thế nữa, việc ​thiếu hợp tác, liên kết và chưa hình thành được hệ thống các nhà cung cấp nguyên vật liệu và sản xuất linh kiện quy mô lớn đang là những tồn tại của ngành công nghiệp này.

Trong khi đó, Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải cũng chỉ ra những yếu điểm của ngành công nghiệp hỗ trợ, do năng lực hạn chế ​nên trình độ sản xuất của các doanh nghiệp trong nước vẫn chưa xứng với khu vực và chưa đáp ứng mong mỏi của các nhà sản xuất ôtô.

​​Lãnh đạo Bộ Công Thương thẳng thắn cho rằng, ​nhiều chính sách còn chưa đồng bộ và chưa ổn định vì vậy sự hỗ trợ cho sự phát triển của ngành ôtô trong nước chưa đáp ứng được yêu cầu và mong muốn của doanh nghiệp và các đối tượng quan tâm.

"Trong bối cảnh cách mạng 4.0 đang lan tỏa mạnh mẽ trên thế giới tác động đến kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia thì chúng ta cần tính tới các ngành công nghiệp của Việt Nam trong đó có ôtô, công nghiệp hỗ trợ ôtô Việt Nam để có sự phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và tận dụng được các thành tựu khoa học công nghệ của thế giới," Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải nói.

Thứ trưởng Bộ Công Thương Đỗ Thắng Hải phát biểu ý kiến. (Ảnh: Đức Duy/Vietnam+)

Không thay đổi sẽ càng thụt lùi

Chỉ ra những yếu kém trên, lãnh đạo Cục Công nghiệp đã đề cập tới một loạt yếu tố, từ thuế và phí đối với ôtô sản xuất trong nước cao, sản lượng tích lũy trong nước thấp, các doanh nghiệp đang sản xuất dưới rất xa so với công suất thiết kế. Nhưng quan trọng hơn, chất lượng xe sản xuất, lắp ráp trong nước mặc dù đã được cải thiện nhưng vẫn không bằng xe nhập khẩu.

Theo đó, đối với xe cá nhân đến 9 chỗ ngồi mục tiêu đề ra là 40% vào năm 2005, 60% vào năm 2010, tuy nhiên đến nay mới đạt bình quân khoảng 7-10%, thậm chí các sản phẩm đã được nội địa hóa mang hàm lượng công nghệ rất thấp như: săm, lốp ôtô, ghế ngồi, gương, kính, bộ dây điện, ắc-quy, sản phẩm nhựa…

Như vậy, nếu so với các nước trong khu vực trung bình đã đạt được 65-70%, trong đó Thái Lan đạt tới 80% thì tỷ lệ nội địa hóa của Việt Nam thấp hơn rất nhiều.

"Nếu các nhà sản xuất ôtô trong nước không sớm có giải pháp hữu hiệu nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, chắc chắn sẽ khó lòng cạnh tranh với thị trường khu vực khi Việt Nam gia nhập AFTA," đại diện Cục Công nghiệp chia sẻ thêm.

- Biểu đồ tỷ lệ nội địa hóa một số dòng xe sản xuất trong nước:

​Tại hội thảo, đại diện Hiệp hội các nhà sản xuất ôtô Việt Nam (VAMA) ​cũng đưa ra những dự báo khả quan về sự phát triển của ngành công nghiệp ôtô Việt Nam trong thời gian tới.

​Dù vậy, do quy mô thị trường nhỏ bé, ​cộng với sản lượng còn quá nhỏ, nên các nhà sản xuất phải nhập khẩu hầu hết các linh kiện CKD để sản xuất ôtô (70%-80%), theo đại diện VAMA điều này dẫn đến các chi phí rất cao cho việc đóng gói, vận chuyển, thuế nhập khẩu.

"Dung lượng thị trường và ​sản lượng là 2 yếu tố quyết định thành công cho việc phát triển ngành công nghiệp ôtô Việt Nam," ông Toru Kinoshita, Chủ tịch Hiệp hội các nhà sản xuất ôtô Việt Nam khuyến nghị./.

Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải nói về công nghiệp ôtô Việt Nam
(Vietnam+)

Tin cùng chuyên mục