Phát biểu tại Phiên thảo luận cấp cao Đại hội đồng Liên hợp quốc Khóa 81, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: "tương lai công nghệ không mặc nhiên bảo đảm công bằng, do đó tiến bộ công nghệ phải góp phần thu hẹp khoảng cách, mở rộng cơ hội phát triển và không tạo ra những hình thức phụ thuộc hay những nguồn xung đột mới."
Người đứng đầu Đảng, Nhà nước ta kêu gọi xây dựng các nguyên tắc và khuôn khổ quản trị bao trùm, an toàn, minh bạch và có trách nhiệm, bảo đảm công nghệ phục vụ con người, tôn trọng chủ quyền quốc gia, chủ quyền số và quyền tự chủ phát triển.
Nhiều chuyên gia, nhà khoa học đồng tình với quan điểm này và cho rằng, thông điệp của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm mang tầm thời đại và cách đặt yêu cầu: Việt Nam phải giữ được quyền quyết định con đường phát triển khi sử dụng công nghệ toàn cầu là rất chính xác.
Năng lực lựa chọn, kiểm soát và thay thế công nghệ
Đặc biệt quan tâm việc Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chia sẻ tại Phiên thảo luận cấp cao Đại hội đồng Liên hợp quốc Khóa 81 về sự "chủ động định hình quản trị công nghệ để tiến bộ phục vụ con người và phát triển chung", Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Tuyên Quang Nguyễn Hữu Thập nhấn mạnh, chủ quyền số cần được cụ thể hóa thành năng lực lựa chọn, kiểm soát và thay thế công nghệ.
Theo ông Nguyễn Hữu Tiệp, yêu cầu này phù hợp với thông điệp mà người đứng đầu Đảng, Nhà nước ta nêu trên.
Ông Nguyễn Hữu Thập cho rằng chủ quyền số cần được cụ thể hóa thành năng lực lựa chọn, kiểm soát và thay thế công nghệ và đề nghị đánh giá năng lực bằng một phép thử: khi nhà cung cấp tăng giá, thay đổi điều kiện hoặc ngừng dịch vụ, chúng ta vẫn bảo toàn được dữ liệu và duy trì hoạt động thiết yếu. Thời gian và chi phí chuyển đổi cần trở thành chỉ dấu đánh giá tự chủ. Một hệ thống vận hành thuận lợi hôm nay vẫn có thể chứa đựng sự phụ thuộc lớn ngày mai.
Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Tuyên Quang đề xuất ba ưu tiên. Trước hết, làm chủ dữ liệu và quyền quyết định cách sử dụng dữ liệu. Cần phân loại theo mức độ nhạy cảm, xác định quyền truy cập, mục đích khai thác, trách nhiệm bảo vệ và điều kiện chia sẻ.
Dữ liệu phục vụ nghiên cứu phải có nguồn gốc hợp pháp, bảo đảm quyền riêng tư. Vị trí đặt máy chủ cần đi cùng năng lực kiểm soát kỹ thuật, nhân sự và hợp đồng. Chủ quyền số phải bảo vệ được lợi ích quốc gia, quyền của người dân và bí mật kinh doanh.
Thứ hai, đầu tư có trọng tâm vào những năng lực quyết định khả năng tự chủ: an ninh mạng, vận hành hạ tầng thiết yếu, năng lực tính toán và AI phục vụ tiếng Việt, các ngành kinh tế. Việt Nam cần chủ động hợp tác, tiếp nhận thành tựu quốc tế, đồng thời xây dựng đội ngũ đủ sức đánh giá, điều chỉnh và thay thế công nghệ. Với doanh nghiệp nhỏ, hạ tầng tính toán dùng chung và dịch vụ kiểm định độc lập có thể giúp giảm chi phí tiếp cận.
Thứ ba, thiết kế khả năng chuyển đổi ngay từ khi đầu tư. Trong các hệ thống quan trọng, cần ưu tiên chuẩn kết nối mở, quy định khả năng xuất dữ liệu sang định dạng sử dụng được, trách nhiệm hỗ trợ chuyển đổi và phương án dự phòng đã được kiểm chứng. Hợp tác công nghệ cần có mục tiêu chuyển giao tri thức, đào tạo đội ngũ và phát triển nhà cung ứng trong nước. Những yêu cầu này cần áp dụng công bằng với cả doanh nghiệp trong nước và nước ngoài.
Cho rằng Việt Nam cần tham gia xây dựng luật lệ công nghệ ngay trong quá trình nâng cao năng lực của mình, ông Thập phân tích, những chuẩn mực hình thành hôm nay sẽ ảnh hưởng lâu dài đến cơ hội của doanh nghiệp và người dân.
"Các nước đang phát triển phải được tham gia thực chất vào quá trình xây dựng luật lệ, được hỗ trợ về hạ tầng, năng lực số và tiếp cận công bằng với những thành quả của tiến bộ khoa học, công nghệ," Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Tuyên Quang Nguyễn Hữu Thập dẫn lại định hướng của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và nói thêm: Tiếng nói của Việt Nam cần mang theo lợi ích chính đáng của một nước đang phát triển, cùng những giải pháp có thể đóng góp cho thế giới.
Việt Nam có thể phát huy vai trò kết nối giữa các nước phát triển công nghệ và các nước đang cần công nghệ để giải quyết bài toán dân sinh. Đối thoại toàn cầu về quản trị AI của Liên Hợp Quốc và các khuôn khổ hợp tác AI của ASEAN là những kênh để đưa đề xuất vào thảo luận. Muốn tham gia thực chất, chúng ta cần chuyên gia theo sát quá trình soạn thảo, đề xuất nội dung cụ thể và xây dựng đồng thuận.
Theo ông Thập, Việt Nam nên kiên trì thúc đẩy ba nội dung: Tiếp cận công bằng với hạ tầng tính toán và tri thức; bảo vệ dữ liệu, quyền con người và sự đa dạng ngôn ngữ; phân bổ trách nhiệm tương xứng với rủi ro. Cần tránh để chi phí tuân thủ trở thành rào cản khiến doanh nghiệp nhỏ mất cơ hội tham gia thị trường. Quy định về an toàn phải đi cùng hỗ trợ kỹ thuật và khả năng kiểm chứng độc lập.
Một đóng góp thiết thực là đề xuất hợp tác xây dựng bộ tiêu chí đánh giá AI cho những ngôn ngữ ít được đại diện và các ứng dụng phục vụ nông nghiệp, giáo dục, dịch vụ công. Việt Nam có thể đóng góp dữ liệu được phép sử dụng, phương pháp thử nghiệm và kết quả đánh giá. Bằng chứng từ thực tiễn sẽ tăng sức thuyết phục cho tiếng nói trên bàn xây dựng chuẩn mực.
Từ "khoảng cách số" sang "khoảng cách năng lực AI"
Tâm đắc với định hướng lớn của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm là "tương lai công nghệ không mặc nhiên bảo đảm công bằng, do đó tiến bộ công nghệ phải góp phần thu hẹp khoảng cách, mở rộng cơ hội phát triển," "khoa học công nghệ, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo đang mở ra những cơ hội chưa từng có nhưng cũng đặt ra những thách thức mới," Tiến sỹ Lê Khánh Cường- Giám đốc Chương trình Kinh tế đầu tư, Trường Đại học Kinh tế- Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng, AI có thể trở thành một "đường biên phát triển" mới.
Trong các cuộc cách mạng công nghệ trước, lợi thế đến từ máy móc, vốn và hạ tầng vật chất; trong kỷ nguyên AI, lợi thế ngày càng phụ thuộc vào năng lực tính toán, dữ liệu, thuật toán, nhân lực chất lượng cao và khả năng tích hợp công nghệ vào tổ chức. Nếu những nguồn lực này tập trung, lợi ích từ AI cũng sẽ có xu hướng tập trung.
Theo Tiến sỹ Lê Khánh Cường, kinh tế học phát triển luôn phân biệt rất rõ giữa tăng trưởng và phát triển. AI có thể làm GDP và năng suất tăng, nhưng điều đó không tự động đồng nghĩa với cơ hội được mở rộng cho tất cả mọi người. IMF chỉ ra rằng nếu AI bổ trợ mạnh hơn cho nhóm lao động thu nhập cao và đồng thời làm tăng lợi tức của vốn, bất bình đẳng thu nhập và tài sản có thể gia tăng. Nói cách khác, AI không chỉ tác động qua tiền lương; nó còn tác động qua quyền sở hữu tài sản, dữ liệu, nền tảng và vốn công nghệ.
Vì vậy, rủi ro lớn nhất không hẳn là "AI lấy hết việc làm", mà là hình thành một thị trường lao động hai tốc độ: một nhóm lao động được AI khuếch đại năng suất và thu nhập; một nhóm khác không có kỹ năng, công cụ hoặc cơ hội tái đào tạo nên bị mắc kẹt ở các công việc giá trị gia tăng thấp.
Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) ước tính khoảng một phần tư lao động toàn cầu đang làm trong những nghề có mức độ phơi nhiễm nhất định với AI tạo sinh, nhưng kết quả có khả năng xảy ra phổ biến hơn là công việc bị tái cấu trúc chứ không phải bị xóa bỏ hoàn toàn. Với Việt Nam, một nghiên cứu của ILO công bố tháng 4/2026 ước tính khoảng 11,5 triệu lao động - tương đương khoảng một phần năm lực lượng lao động - làm trong các nghề có nhiệm vụ có thể chịu tác động của GenAI; trong khi nhóm có nguy cơ tự động hóa hoàn toàn ở mức cao chỉ chiếm dưới 2%.
Điều này dẫn tới một kết luận chính sách rất quan trọng: trọng tâm không nên là dự báo máy móc và AI sẽ thay bao nhiêu người, mà là chuẩn bị để hàng triệu người lao động biết làm việc cùng máy, AI. Nếu tốc độ đổi mới công nghệ nhanh hơn tốc độ đổi mới kỹ năng, bất bình đẳng sẽ xuất hiện ngay trong quá trình chuyển đổi.
Tiến sỹ Lê Khánh Cường cho rằng, đây là vấn đề cần đặc biệt lưu ý đối với các nền kinh tế đang phát triển. Khi dữ liệu, nền tảng, điện toán đám mây, mô hình nền tảng và tiêu chuẩn kỹ thuật chủ yếu do một số ít chủ thể kiểm soát, sự phụ thuộc công nghệ có thể chuyển thành phụ thuộc về chi phí, tiêu chuẩn, dữ liệu và khả năng đổi mới.
Vì thế, "chủ quyền số" không nên được hiểu theo hướng khép kín, mà là năng lực của một quốc gia được quyền lựa chọn, có khả năng thay thế, có năng lực thương lượng và không bị khóa chặt vào một cấu trúc công nghệ duy nhất.
Theo Tiến sỹ Lê Khánh Cường, Việt Nam cần chuyển từ "phổ cập công nghệ" sang "phổ cập năng lực hưởng lợi từ công nghệ." Đây phải là trục chính của chính sách phát triển bao trùm trong kỷ nguyên AI.
"Cách tiếp cận này, tôi cho rằng hoàn toàn phù hợp với thông điệp mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu tại Phiên thảo luận cấp cao Đại hội đồng Liên hợp quốc Khóa 81 về việc "bảo đảm công nghệ phục vụ con người, tôn trọng chủ quyền quốc gia, chủ quyền số và quyền tự chủ phát triển."
Chúng ta phải lưu ý, mục tiêu không phải "AI hóa bằng mọi giá," mà là dùng AI để nâng năng suất, giảm chi phí giao dịch, cải thiện chất lượng dịch vụ và mở rộng cơ hội phát triển. Chính sách vì vậy phải đồng thời đi trên ba tầng: hạ tầng - kỹ năng - năng lực hấp thụ của doanh nghiệp và khu vực công," Tiến sỹ Lê Khánh Cường bày tỏ.
Trước hết, hạ tầng số cần được nhìn như một loại hạ tầng phát triển thiết yếu. Không chỉ là độ phủ mạng, mà còn là chất lượng kết nối, trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây, năng lực tính toán, dữ liệu dùng chung và khả năng tiếp cận các công cụ AI với chi phí hợp lý. Nếu hạ tầng chỉ tập trung ở một số đô thị và doanh nghiệp lớn, AI có thể làm sâu thêm khoảng cách vùng miền và khoảng cách giữa doanh nghiệp lớn với doanh nghiệp nhỏ.
Thứ hai, chính sách nhân lực phải chuyển mạnh từ "đào tạo chuyên gia AI" sang "nâng năng lực AI cho toàn bộ lực lượng lao động." Việt Nam dĩ nhiên cần kỹ sư, nhà khoa học dữ liệu và chuyên gia bán dẫn; nhưng phát triển bao trùm chỉ xuất hiện khi giáo viên, bác sỹ, kỹ thuật viên, cán bộ quản lý, người lao động trong doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng có thể dùng AI để làm việc tốt hơn. Đào tạo lại và học tập suốt đời vì thế phải được coi là một chính sách năng suất, chứ không chỉ là chính sách xã hội.
Thứ ba, cần ưu tiên AI vào những lĩnh vực có "suất sinh lời xã hội" cao: giáo dục, y tế, nông nghiệp, quản trị công, giao thông, phòng chống thiên tai và hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đó là nơi một đơn vị đầu tư công nghệ có thể tạo ra lợi ích lan tỏa lớn nhất cho số đông.
Thứ tư, Việt Nam cần nâng năng lực nội sinh trong chuỗi giá trị AI. Không nhất thiết phải làm tất cả mọi thứ, nhưng phải xác định những lớp năng lực không thể thiếu: dữ liệu tiếng Việt và dữ liệu ngành, mô hình và ứng dụng phù hợp với bối cảnh Việt Nam, an toàn và kiểm định AI, hạ tầng tính toán ở mức chiến lược, cùng hệ sinh thái doanh nghiệp có khả năng tích hợp và thương mại hóa công nghệ. Hội nhập càng sâu thì năng lực nội sinh càng phải mạnh; hai vế này không mâu thuẫn mà bổ trợ cho nhau…/.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu tại Phiên thảo luận cấp cao Đại hội đồng Liên hợp quốc Khóa 81