Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Bùi Thanh Sơn. (Ảnh: An Đăng/TTXVN)

Ba mươi năm vừa qua là một giai đoạn lịch sử quan trọng trong sự nghiệp phát triển của đất nước, đánh dấu sự trưởng thành về mọi mặt của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Trong đó, công tác đối ngoại cũng đã góp phần không nhỏ vào thành tựu to lớn trong công cuộc đổi mới.

Nhân dịp này, Thứ trưởng Ngoại giao Bùi Thanh Sơn đã trả lời phỏng vấn báo chí. Sau đây là nội dung phỏng vấn:

- Nhìn tổng thể 30 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu. Vậy Thứ trưởng có thể cho biết những thành tựu nổi bật của công tác đối ngoại 30 năm qua?


Thứ trưởng Bùi Thanh Sơn:
Trong 30 năm đổi mới, đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, từ một nước có thu nhập thấp, kém phát triển trở thành nước có thu nhập trung bình và chuẩn bị chuyển sang giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong thành tựu chung đó, công tác đối ngoại cũng đã góp phần không nhỏ vào thành tựu to lớn trong công cuộc đổi mới 30 năm qua, thể hiện trên một số lĩnh vực.

Trước hết, 30 năm trước, trong bối cảnh đất nước bị bao vây cấm vận bên ngoài và khủng hoảng kinh tế-xã hội bên trong, chúng ta đã chuyển sang phá bao vây cấm vận, tiến hành bình thường hóa quan hệ với tất cả các nước. Sau 30 năm Đổi mới, quan hệ quốc tế của đất nước ta có thay đổi sâu sắc.

Việt Nam có quan hệ với hầu hết các nước trên thế giới, trong đó có thiết lập quan hệ ngoại giao với 185 nước trong tổng số 193 quốc gia thành viên Liên hợp quốc. Việt Nam cũng tham gia vào 70 tổ chức quốc tế, khu vực, đóng vai trò là thành viên tích cực, chủ động, có trách nhiệm.

Vị thế của Việt Nam được nâng cao trên trường quốc tế, khu vực, nhiều sáng kiến được các tổ chức quốc tế hoan nghênh.

Từ bối cảnh chung đó, trong những năm trở lại đây, Việt Nam đã đưa quan hệ với các đối tác đi vào chiều sâu. Việt Nam đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với 15 đối tác trên thế giới, đối tác toàn diện với 10 đối tác trên thế giới và có quan hệ hợp tác nhiều mặt với bạn bè truyền thống ở các khu vực khác nhau trên thế giới.

Điều đó tạo ra sự tin cậy, gắn bó và với nền tảng quan hệ hữu nghị truyền thống đã đưa quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với các nước đi vào chiều sâu trên tất cả các lĩnh vực như kinh tế, thương mại, đầu tư; tranh thủ nguồn lực, sự ủng hộ, hỗ trợ của bạn bè quốc tế để phục vụ phát triển đất nước, đấu tranh bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ.

Trong suốt chặng đường đổi mới, ngành ngoại giao với vai trò tiên phong và nòng cốt trong công tác đối ngoại, đã chủ động đẩy mạnh công tác ngoại giao phục vụ kinh tế, góp phần thu hút các nguồn lực từ bên ngoài để thúc đẩy hơn nữa công cuộc đổi mới.

Công tác đối ngoại nói chung của Đảng và Nhà nước ta đã hỗ trợ rất lớn cho sự nghiệp phát triển đất nước. Chúng ta đã kết hợp được sức mạnh của đất nước, nội tại của công cuộc đổi mới với sự hỗ trợ, giúp đỡ của cộng đồng quốc tế để phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội.

Tranh thủ nguồn đầu tư lớn từ các nước, đến nay Việt Nam có các dự án đầu tư nước ngoài vào Việt Nam với tổng trị giá 270 tỷ USD, tranh thủ nguồn ODA của các nước. Ngoài ra còn có các viện trợ hợp tác phi Chính phủ, phục vụ xóa đói giảm nghèo cũng như thu hẹp khoảng cách phát triển ở các vùng miền trong cả nước.

Bên cạnh đó, công tác đối ngoại cũng đã góp phần giữ vững chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, xây dựng đường biên giới hòa bình hữu nghị với các nước láng giềng; hoàn thành phân giới cắm mốc trên đất liền với Lào, Trung Quốc; đạt kết quả tích cực về phân giới, cắm mốc biên giới đất liền với Campuchia.

Chúng ta đã ký các hiệp ước về phân định biển với Trung Quốc trong Vịnh Bắc Bộ, cũng như với Thái Lan, Indonesia, Campuchia và Malaysia; kiên quyết đấu tranh với những hành động xâm phạm chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, đồng thời tích cực tìm kiếm các biện pháp hòa bình để giải quyết các tranh chấp với các nước.

Về đối ngoại đa phương, Việt Nam đã đạt được những thành tựu rất quan trọng, từ chỗ bị bao vây cấm vận, chỉ có quan hệ với các nước Xã hội chủ nghĩa, Việt Nam đã dần khôi phục và mở rộng quan hệ hợp tác với hầu hết các nước trên thế giới. Việt Nam đã tham gia vào Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN).

Việt Nam không chỉ tham gia vì lợi ích của mình mà đã đóng góp có trách nhiệm xây dựng Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á, chính thức trở thành Cộng đồng ASEAN vào ngày 31/12/2015.

Ngoài ra, Việt Nam cũng tham gia vào các diễn đàn khác như Liên minh Kinh tế Á-Âu, Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC), các tổ chức của Liên hợp quốc... đóng góp tích cực và đang trở thành nước có vị thế và vai trò ngày càng cao ở khu vực, được cộng đồng quốc tế tôn trọng.

Ngay trong năm 2015, Việt Nam đã được tín nhiệm bầu với số phiếu cao vào các cơ quan quan trọng của Liên hợp quốc như Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2014-2016, Ủy ban Di sản Thế giới của UNESCO nhiệm kỳ 2013-2017, Hội đồng Kinh tế-Xã hội của Liên hợp quốc (ECOSOC) nhiệm kỳ 2016-2018...

Ngoài ra công tác thông tin, tuyên truyền đối ngoại về hỗ trợ, bảo hộ công dân, kiều bào ở nước ngoài được triển khai.

Trong 30 năm, công tác về người Việt Nam ở nước ngoài có chuyển biến rất lớn, nhất là sau khi Nghị quyết số 36 NQ/TƯ của Bộ Chính trị khóa IX về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài được ban hành.

Việt Nam đã triển khai hàng loạt các hoạt động để gắn kết giữa kiều bào ở bên ngoài với trong nước, trong đó khẳng định quan điểm cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không thể tách rời của các dân tộc Việt Nam.

Chúng ta cũng tranh thủ sự ủng hộ, hướng về tổ quốc của người Việt Nam ở nước ngoài đóng góp vào sự phát triển của đất nước.

Nhìn tổng thể lại, 30 năm qua, công tác đối ngoại đã đóng góp trên nhiều lĩnh vực để phục vụ xây dựng tổ quốc đồng thời đóng góp vào thành tựu chung của đất nước.

- Thứ trưởng có thể chia sẻ những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn hoạt động đối ngoại 30 năm qua?


Thứ trưởng Bùi Thanh Sơn: Dựa trên tư tưởng ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nền ngoại giao hiện đại của chúng ta dựa trên nguyên tắc, phương châm, nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh. Đó là những bài học được đúc kết như bài học cần quán triệt, xác định lợi ích quốc gia, dân tộc. Đây vừa là nguyên tắc, vừa là mục tiêu trong hoạt động đối ngoại.

Khi đã xác định được mục tiêu, chúng ta triển khai phương châm của Hồ Chí Minh là “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” và đạt thành tựu rất lớn.

Cụ thể như, trong công cuộc Đổi mới, chúng ta luôn xác định phải giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và tập trung nguồn lực phát triển đất nước, đồng thời phải kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ và tăng cường quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam với các các nước bạn bè quốc tế.

Với những mục tiêu đó, trong 30 năm đổi mới, chúng ta đã linh hoạt xử lý khéo léo, đưa ra những đối sách phù hợp, tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế đối với sự nghiệp đổi mới của Việt Nam.

Bài học kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Ngay từ khi nền ngoại giao Việt Nam ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh bài học này. Trong bối cảnh của 30 năm đổi mới, chúng ta đã vận dụng khéo léo, thành công bài học này.

Điển hình, trước đây, trong thời kỳ giải phóng dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là chúng ta phải kết hợp chặt chẽ giữa mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao để tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè quốc tế đối với sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc. Nhưng trong 30 năm đổi mới, chúng ta xác định, tiến bước vào thời kỳ đổi mới xây dựng đất nước, công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.

Vì thế bài học này chúng ta phải vận dụng trong một bối cảnh mới, kết hợp đưa đất nước ta đi vào dòng chủ lưu, phù hợp với những xu hướng phát triển chung của thế giới, nêu cao được chính nghĩa, lợi ích quốc gia, dân tộc hài hòa với lợi ích chung của các nước cùng hợp tác, cùng phát triển, cùng thịnh vượng.

Bên cạnh đó, trong quá trình triển khai công tác đối ngoại có nhiều bài học cần vận dụng như kết hợp chặt chẽ giữa mặt trận chính trị với ngoại giao quân sự. Trong thời bình cần kết hợp chặt chẽ giữa các lực lượng trong đối ngoại kể cả về kinh tế và các lĩnh vực khác nhằm huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị tham gia vào hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế sẽ đạt được kết quả to lớn hơn.

- Ngày nay, trong tình hình mới, đất nước hội nhập ngày càng sâu rộng, công tác đối ngoại tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng, phục vụ đắc lực công cuộc đổi mới đất nước. Thứ trưởng cho biết những nhiệm vụ đối ngoại trọng tâm trong thời gian tới?

Thứ trưởng Bùi Thanh Sơn: Năm 2016 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với nước ta. Đây là năm đầu tiên chúng ta triển khai Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII và bước vào Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2016-2020.

Do đó, công tác đối ngoại trong thời gian tới sẽ tập trung vào một số nhiệm vụ như quán triệt triển khai và vận dụng sáng tạo đường lối đối ngoại của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII đề ra; nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại và chủ động tích cực hội nhập quốc tế, thực hiện các mục tiêu, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tập trung vào phát triển kinh tế của đất nước; kiên quyết, kiên trì đấu tranh giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng với các nước.

Để cụ thể hóa các nhiệm vụ đó, chúng ta cần xây dựng các chương trình hành động cụ thể trong các quan hệ giữa Việt Nam với các đối tác quan trọng.

Bước vào thời kỳ hội nhập mới, sau khi chúng ta đã tham gia và sắp tham gia vào một loạt các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới với Hàn Quốc, Liên minh Kinh tế Á-Âu, Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), Hiệp định Đối tác kinh tế khu vực toàn diện (RCEP), với Liên minh châu Âu...

Trong thời gian tới, chúng ta phải tiếp tục tuyên truyền, quảng bá, phổ biến cập nhật thông tin đầy đủ tới cộng đồng các doanh nghiệp và người dân hiểu rõ những cơ hội, thách thức khó khăn để tận dụng cơ hội, biến những thách thức thành những thuận lợi nhằm triển khai thành công hội nhập kinh tế quốc tế cũng như hội nhập trong lĩnh vực khác.

Công tác đấu tranh bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, chúng ta luôn giương cao ngọn cờ chính nghĩa, kiên trì, đấu tranh, bảo vệ chủ quyền bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, trong đó vận dụng cả quy tắc ứng xử ở khu vực, đồng thời duy trì, phát triển quan hệ hợp tác hữu nghị với các nước láng giềng, trong khu vực.

Công tác ngoại giao kinh tế là một trong những nhiệm vụ, xuyên suốt của ngành ngoại giao trong những năm gần đây. Ngoại giao kinh tế là trọng tâm đồng thời là điểm phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành, cơ quan trung ương và địa phương trong việc triển khai các nội dung, nội hàm hợp tác kinh tế cụ thể với từng đối tác.

Chúng tôi đã xây dựng từng chương trình cụ thể với từng đối tác để hỗ trợ doanh nghiệp, địa phương trong triển khai hoạt động xúc tiến đầu tư thương mại, cũng như ký kết thỏa thuận văn bản hợp tác, triển khai, giám sát việc thực hiện các biên bản, hợp tác hiệu quả.

Trong bối cảnh tình hình thế giới diễn biến phức tạp, công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, công tác bảo hộ công dân nếu làm tốt sẽ giúp cho công dân Việt Nam ra nước ngoài thấy yên tâm có chỗ dựa vững chắc và đóng góp tốt hơn trong quá trình xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

Công tác thông tin tuyên truyền đối ngoại cũng cần kết hợp chặt chẽ, phổ biến đường lối đối ngoại của Việt Nam tới người dân trong nước và bạn bè quốc tế, tạo ra sự đồng thuận, hỗ trợ tốt nhất trong công tác triển khai hoạt động đối ngoại cũng như là xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước.

- Trân trọng cảm ơn Thứ trưởng!