Nguyên Phó Thủ tướng Hoàng Anh. (Nguồn: TTXVN)

Sau một thời gian lâm bệnh, mặc dù đã được Đảng, Nhà nước, các giáo sư, bác sỹ và gia đình tận tình chăm sóc, cứu chữa, song do tuổi cao, sức yếu, nguyên Bí thư Trung ương Đảng, nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ Hoàng Anh đã từ trần hồi 18 giờ 40 phút ngày 10/5 tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 Hà Nội, hưởng thọ 104 tuổi.

Để tỏ lòng thương tiếc và ghi nhận những công lao cống hiến của đồng chí Hoàng Anh, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quyết định tổ chức lễ tang đồng chí Hoàng Anh với nghi thức lễ tang cấp Nhà nước.

Linh cữu đồng chí Hoàng Anh quàn tại Nhà tang lễ Quốc gia, số 5 Trần Thánh Tông, thành phố Hà Nội.

​Lễ viếng ​nguyên Phó Thủ tướng Hoàng Anh được tổ chức từ 7 giờ 30 phút đến 10 giờ 30 phút, ngày 16/5; Lễ truy điệu, đưa tang hồi 10 giờ 30 phút và Lễ an táng hồi 14 giờ 30 phút cùng ngày, tại Khu 7-A3 Nghĩa trang Công viên Vĩnh Hằng, thành phố Hà Nội.

Ban Bí thư Trung ương Đảng đã quyết định Ban Lễ tang Nhà nước gồm 21 ​người; Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Đinh Thế Huynh làm Trưởng ban.

Tóm tắt tiểu sử đồng chí Hoàng Anh, nguyên Bí thư Trung ương Đảng, nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ:

Đồng chí Hoàng Anh, sinh ngày 10/2/1912; quê quán: xã Phong An, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Thường trú tại số nhà 25 Hùng Vương, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

Năm 1932, đồng chí bắt đầu tham gia hoạt động cách mạng ở địa phương.

Năm 1936, đồng chí tham gia hoạt động phong trào dân chủ.

Năm 1937, đồng chí được kết nạp vào Đảng, được cử vào Tỉnh ủy lâm thời tỉnh Thừa Thiên.

Tháng 10/1938, đồng chí bị thực dân Pháp bắt, tháng 5/1939 ra tù, sau đó bị bắt lại, bị đưa đi tù ở các nhà lao Huế, Lao Bảo, Ban Mê Thuột, rồi đi an trí ở Đắc Tô.

Tháng 5/1945, đồng chí ra tù về hoạt động ở Thừa Thiên, được cử vào Thường vụ Việt minh tỉnh, rồi làm Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh Thừa Thiên.

Sau Tổng khởi nghĩa tháng 8/1945, đồng chí làm Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh Thừa Thiên.

Cuối năm 1948, đồng chí được bầu vào Liên khu ủy 4, trực tiếp làm Bí thư Tỉnh ủy kiêm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh Thừa Thiên.

Năm 1950, đồng chí được bầu vào Thường vụ Liên khu ủy 4, phụ trách Bình Trị Thiên kiêm Chính ủy Mặt trận Bình Trị Thiên.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng năm 1951, đồng chí được bầu vào Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng, trực tiếp làm Bí thư Liên khu ủy, kiêm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính Liên khu 4.

Từ giữa năm 1954 đến năm 1958, đồng chí được phân công tham gia Quân ủy Trung ương, phụ trách công tác đình chiến, rồi được cử làm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, năm 1956 được phân công kiêm Chủ nhiệm Ban Thể dục Thể thao Trung ương.

Năm 1956, đồng chí được bầu Ủy viên chính thức Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Cuối năm 1958, được cử vào Ban Bí thư Trung ương Đảng, được phân công làm Bộ trưởng Bộ Tài chính.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng năm 1960, đồng chí tiếp tục được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Ban Bí thư Trung ương Đảng, làm Chủ nhiệm Văn phòng Tài chính Thương nghiệp Phủ Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Tài chính.

Từ năm 1965 đến năm 1974, đồng chí làm Trưởng Ban Nông nghiệp Trung ương, rồi làm Bộ trưởng Nông nghiệp và Chủ nhiệm Văn phòng Nông nghiệp Phủ Thủ tướng, tham gia Thường vụ Hội đồng Chính phủ. Năm 1971, đồng chí được cử làm Phó Thủ tướng Chính phủ, kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Nông nghiệp Trung ương.

Năm 1974 - 1976, đồng chí là Bí thư Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ phụ trách khối Nông nghiệp. Tháng 6/1976, đồng chí được bổ nhiệm làm Tổng Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng (tháng 12/1976), đồng chí được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được phân công làm Bộ trưởng kiêm Bí thư Ban cán sự đảng Bộ Tài chính.

Đến năm 1986, đồng chí được nghỉ công tác theo chế độ.

Đồng chí là Ủy viên Trung ương Đảng các khóa II, III, IV; Bí thư Trung ương Đảng khóa II, khóa III; đại biểu Quốc hội từ khóa I đến khóa VII.

Với công lao và đóng góp đối với sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và dân tộc, đồng chí đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao vàng, Huy hiệu 75 năm tuổi Đảng và nhiều huân, huy chương cao quý khác./.