Những hạn chế trong chính sách tiền tệ của ECB, Fed thời dịch COVID-19

Những dấu hiệu đầu tiên về tính hiệu quả của các chính sách tiền tệ của Fed, ECB có thể được nhìn thấy trong các phản ứng ngắn hạn của giá cổ phiếu và lợi suất trái phiếu.
Những hạn chế trong chính sách tiền tệ của ECB, Fed thời dịch COVID-19 ảnh 1Giao dịch viên tại Sàn giao dịch chứng khoán New York, Mỹ. (Ảnh: THX/TTXVN)

Các ngân hàng trung ương đã thực hiện nhiều biện pháp chính sách tiền tệ sâu rộng để bù đắp những ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng COVID-19.

Trong khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) đã cắt giảm lãi suất, Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) cũng mở rộng các chương trình mua trái phiếu.

Một câu hỏi đặt ra lúc này là liệu những biện pháp trên có mang lại hiệu quả là làm dịu thị trường và hỗ trợ nền kinh tế thực sự như mong muốn hay không?

Theo đánh giá của giới chuyên gia, các tác động kinh tế vĩ mô hiện không thể định lượng được. Những dấu hiệu đầu tiên về tính hiệu quả của các chính sách có thể được nhìn thấy trong các phản ứng ngắn hạn của giá cổ phiếu và lợi suất trái phiếu (Viện nghiên cứu kinh tế Đức - DIW ngày 9/4/2020).

[Fed hành động nhanh giữa lúc Quốc hội bế tắc với gói 1.000 tỷ USD]

Với sự leo thang của cuộc khủng hoảng dịch COVID-19, cả ECB và Fed đã thực hiện nhiều biện pháp chính sách tiền tệ sâu rộng. Các ngân hàng trung ương đã thực hiện cắt giảm lãi suất quan trọng, công bố các chương trình cung cấp thanh khoản cho các ngân hàng và mở rộng chương trình mua trái phiếu hiện có hoặc thiết lập các chương trình cụ thể mới.

Phạm vi của các biện pháp này là rất lớn và có thể so sánh với các đợt mua trái phiếu đầu tiên của Mỹ sau khi bùng nổ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008/2009 và của ECB trong cuộc khủng hoảng nợ châu Âu từ năm 2010.

Mặc dù các phản ứng chính sách tiền tệ hiện tại của Fed và ECB tương tự nhau, vẫn có sự khác biệt đáng chú ý ở điểm bắt đầu của các chính sách tiền tệ tương ứng. Điều này đặt ra câu hỏi về mức độ mà các biện pháp kích thích tiền tệ có thể chống lại hậu quả kinh tế của đại dịch COVID-19 ở các nền kinh tế tương ứng.

Fed và các chính sách tiền tệ cấp tiến

Do tình hình dữ liệu hiện tại, vẫn chưa thể định lượng tác động của các biện pháp mở rộng đối với sự phát triển kinh tế nói chung. Tuy nhiên, có thể xác định liệu những biện pháp chính sách tiền tệ mới nhất có ảnh hưởng đến lợi suất trái phiếu chính phủ và giá cổ phiếu ở các quốc gia, khu vực kinh tế khác nhau hay không. Điều này sẽ cung cấp thông tin ban đầu về tính hiệu quả của chính sách tiền tệ.

Trái phiếu chính phủ thường được coi là chứng khoán gần như không có rủi ro và có tính thanh khoản, phục vụ thị trường như các giá trị tham chiếu cho lãi suất cho vay. Các biện pháp thông thường và đặc biệt mở rộng nhằm hạ lãi suất thị trường đối với các khoản vay và do đó để hỗ trợ cho vay và nhu cầu kinh tế nói chung.

Một đánh giá ban đầu về tác động của các biện pháp chính sách tiền tệ có thể được thực hiện trên cơ sở phản ứng đối với lợi suất trái phiếu chính phủ. Sự phát triển của giá cổ phiếu thúc đẩy chính sách tiền tệ cũng sẽ cung cấp thông tin về việc liệu triển vọng kinh tế của các công ty có thay đổi đáng kể hay không.

Fed đã đưa ra ba quyết định chính sách tiền tệ lớn vào tháng Ba năm nay sau đại dịch COVID-19. Quyết định thứ nhất, cuối tháng Hai, trước sự gia tăng dịch bệnh và sự hạn chế kinh tế sâu rộng ở Hàn Quốc và Italy, Ủy ban Thị trường mở Liên bang (FOMC) thuộc Fed ngày 3/3 đã quyết định giảm lãi suất cơ bản xuống 1,25% để chống lại rủi ro kinh tế có thể do sự lây lan của virus. Quyết định thứ hai (rộng hơn), được đưa ra vào ngày 15/3, thông báo nối lại việc mua trái phiếu với tổng trị giá 700 tỷ USD và hạ lãi suất cơ bản thêm 100 điểm cơ bản.

Bối cảnh cho bước thứ hai không theo lịch trình có lẽ là sự lây lan nhanh chóng của virus SARS-CoV-2. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã xác định đây là một đại dịch và Mỹ cũng đã chứng kiến sự gia tăng theo cấp số nhân của những người nhiễm bệnh.

Tuy nhiên, trong tháng Ba, tình hình ngày càng xấu đi, với việc chính phủ Mỹ công bố các biện pháp tài khóa sâu rộng và Fed cũng nhắc lại trong một tuyên bố vào ngày 23/3. Trong quyết định mới nhất này, Fed tuyên bố sẽ tiếp tục mua tài sản vô thời hạn.

Lần cắt giảm đầu tiên ngày 3/3 không ảnh hưởng đáng kể đến lợi suất. Tuy nhiên, tình hình lại khác với thông báo ngày 16/3. Vào ngày công bố, lợi suất trái phiếu chính phủ của tất cả các kỳ hạn giảm khoảng 0,2 điểm phần trăm. Sự suy giảm này là đáng kể so với những biến động quan sát được trong lợi suất trái phiếu chính phủ kể từ khi bắt đầu cuộc khủng hoảng COVID-19.

Và lời hứa của Fed ngày 23/3 cũng cho thấy hiệu ứng cắt giảm lãi suất đáng kể đối với trái phiếu chính phủ dài hạn. Do đó, có thể nói rằng, các thông báo về việc mua trái phiếu nói riêng đã có tác động mở rộng trên thị trường vốn ở đó.

Thị trường chứng khoán tiếp tục giảm mặc dù ECB đã áp dụng các biện pháp

Trong khi đó, ECB cũng đã phản ứng vào tháng Ba với ba quyết định chính sách tiền tệ quan trọng để ổn định nền kinh tế thực sự bị khủng hoảng bởi dịch bệnh. Ngày 12/3, khi tình hình ở Italy xuất hiện và virus lan truyền nhanh chóng ở các quốc gia thành viên khác, ECB đã tuyên bố trong cuộc họp thường kỳ rằng họ sẽ kiểm duyệt chương trình mua trái phiếu hiện có. Ngoài ra, việc cung cấp mục tiêu của thanh khoản đã được mở rộng hoặc giảm hơn nữa thông qua các chương trình đã chạy.

Quyết định quan trọng thứ hai tiếp theo vào ngày 18/3 với việc công bố chương trình mua khẩn cấp dành riêng cho đại dịch COVID-19 (PEPP) để tăng khối lượng trái phiếu do ECB nắm giữ khoảng 30%. Quyết định chính sách tiền tệ quan trọng cuối cùng là thay đổi mức trần với lượng trái phiếu do ngân hàng trung ương nắm giữ.

Những hạn chế trong chính sách tiền tệ của ECB, Fed thời dịch COVID-19 ảnh 2Đồng tiền euro tại Dortmund, miền tây nước Đức. (Ảnh: AFP/TTXVN)

Trước đây, ECB đã cam kết không nắm giữ hơn một phần ba trái phiếu chính phủ của một quốc gia, cũng để giải phóng khỏi những nghi ngờ về tài trợ của chính phủ. Giới hạn này đã được giảm vào ngày 25/3.

Nhìn chung, việc mở rộng mua trái phiếu của ECB không có tác động đến lợi suất trái phiếu trong Khu vực sử dụng đồng euro (Eurozone). Thông báo ngày 12/3 và thông báo thứ hai của PEPP ngày 18/3 đã không đạt được hiệu quả mong muốn của việc cắt giảm lãi suất.

Ngược lại, lợi suất của trái phiếu Eurozone đã tăng lên trong những ngày sự kiện này. Tuy nhiên, sự gia tăng lợi suất này chỉ có ý nghĩa đối với trái phiếu chính phủ dài hạn. Do sự biến động đã cao trên thị trường trái phiếu trong cuộc khủng hoảng, sự suy giảm này cũng không thể được coi là đáng kể.

Thông báo chính sách tiền tệ đầu tiên của ECB ngày 12/3 chỉ có tác động nhỏ đến trái phiếu Đức, Hà Lan và Tây Ban Nha. Ngược lại, lợi suất trái phiếu chính phủ Italy và Pháp tăng đáng kể lần lượt 0,2 và 0,15 điểm phần trăm. Tuy nhiên, sự gia tăng này không đáng kể đối với tất cả các quốc gia, điều này không ít do sự biến động cao của thị trường trái phiếu trong giai đoạn được xem xét.

Với thông báo của PEPP, lợi suất trái phiếu chính phủ của tất cả các quốc gia được xem xét lại tăng mạnh. Đối với Đức, Hà Lan và Tây Ban Nha, mức tăng này từ 0,1 đến 0,2 điểm phần trăm thậm chí còn có ý nghĩa trong lần này. Thông báo thứ ba của ECB ngày 25/3, cho thấy hiệu ứng cắt giảm lãi suất nhẹ đối với trái phiếu Italy. Ngược lại, không có tác động đáng chú ý đến lợi suất của trái phiếu chính phủ khác đang được xem xét.

[ECB nới lỏng quy định cho vay chưa từng có giữa đại dịch COVID-19]

Giải thích cho tác động thấp của các biện pháp chính sách tiền tệ của ECB là quyết định của ECB ngày 12/3 đã làm thị trường tài chính thất vọng. Họ đã mong đợi một kích thích tiền tệ mạnh mẽ hơn nhiều vào thời điểm này. Đáng chú ý là việc công bố PEPP rất “bành trướng” cũng có tác động hạn chế trên thị trường trái phiếu. Ngoài ra, có thể là do mức lãi suất rất thấp, các nhà đầu tư không còn cảm thấy cần phải sắp xếp lại danh mục tài sản của mình.

Hơn nữa, việc công bố danh mục các biện pháp rất rộng của ECB có khả năng đã gửi một tín hiệu tiêu cực, do đó các nhà đầu tư đã điều chỉnh đánh giá của họ về triển vọng kinh tế đi xuống và phí bảo hiểm rủi ro đã tăng theo. Phản ứng tiêu cực của giá cổ phiếu Mỹ đối với quyết định ngày 16/ 3 có thể được giải thích bằng cái gọi là kênh tín hiệu. Các biện pháp chính sách tiền tệ mở rộng cũng có thể phản tác dụng vì chúng báo hiệu rằng tình hình kinh tế tồi tệ hơn so với giả định ban đầu.

Trong khi đó, trái với dự đoán, hai thông báo chính sách tiền tệ đầu tiên vào ngày 12/3 và 18/3 có tác động tiêu cực lớn đến thị trường vốn của tất cả các quốc gia đang được xem xét (Pháp, Đức, Italy, Hà Lan và Tây Ban Nha). Các chỉ số chứng khoán đã giảm 10 đến 15% ngày 12/3 và 5% ngày 18/3 (không tính ở Italy).

Các ngành ôtô, tiện ích, tài chính và ngân hàng bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi việc giảm giá ngày 12/3, trong khi chăm sóc sức khỏe, thực phẩm và nhà thuốc và công nghệ ít bị ảnh hưởng. Ngày 18/3, việc này đặc biệt ảnh hưởng đến các ngành dầu khí, sản xuất công nghiệp và ô tô và công nghệ. Giá cổ phiếu giảm từ 5 đến 10%.

Tuy nhiên, vào ngày 25/3, giá cổ phiếu đã phục hồi 2-5%. Do tính biến động cao của các chỉ số chứng khoán trong những tuần kể từ khi đại dịch COVID-19 bùng phát, không có biến động giá đáng kể nào trong ngày sự kiện đó.

Có thể nói, các biện pháp chính sách tiền tệ mở rộng của ECB cho đến nay ít có tác dụng ổn định trên thị trường tài chính. Ngược lại, giá cổ phiếu giảm mạnh trong hai quyết định chính sách tiền tệ đầu tiên một lần nữa cho thấy họ đã gửi tín hiệu tiêu cực đến các công ty thị trường về triển vọng kinh tế trong khu vực đồng euro.

Hiện nay, các biện pháp chính sách tiền tệ sâu rộng được thực hiện bởi cả ECB và Fed đã không tạo ra một bước ngoặt về giá cổ phiếu đã giảm kể từ tháng Hai. Fed, ít nhất đã thành công trong việc hạ thấp đáng kể lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ bằng cách giới thiệu lại chương trình mua trái phiếu và thông báo mua trái phiếu không giới hạn. Mặt khác, mặc dù chương trình trái phiếu dành riêng cho dịch COVID-19, kích thích chính sách tiền tệ của ECB gần như không có tác dụng đối với thị trường trái phiếu chính phủ châu Âu.

Một mặt, điều này có lẽ là do thực tế là các biện pháp mà ECB đưa ra ban đầu đã làm thất vọng những kỳ vọng của những bên tham gia thị trường vì họ quá do dự. Mặt khác, ECB đang phải vật lộn với tình hình tiền tệ khó khăn. Với mức lãi suất thấp liên tục, việc mở rộng mua tài sản đã không khiến các nhà đầu tư sắp xếp lại danh mục tài sản của họ theo đó.

Giới chuyên gia đánh giá có vấn đề là tại thời điểm công bố PEPP, ECB vẫn đang nắm giữ tối đa một phần ba trái phiếu chính phủ của một quốc gia. Điều này sẽ làm giảm hiệu quả của PEPP, vì đối với một số quốc gia, giới hạn này đã đạt được trước khi bắt đầu cuộc khủng hoảng COVID-19. Sau khi từ chối quy định này, trái phiếu chính phủ từ Italy và Tây Ban Nha nói riêng đã giảm. Tuy nhiên, hiệu quả tổng thể mong muốn không thể đạt được.

Theo quan điểm của chính sách tiền tệ đã rất mở rộng, phạm vi của các ngân hàng trung ương nói chung là rất hạn chế. Điều quan trọng hơn cả là các bước chính sách tiền tệ được thực hiện bằng các biện pháp tài khóa có mục tiêu nhằm ổn định nhu cầu tổng thể. Trong khu vực đồng euro, các giải pháp phải được tìm thấy nhanh chóng, đặc biệt là đối với các quốc gia có nhu cầu, như Italy và Tây Ban Nha./. 

(Vietnam+)

Tin cùng chuyên mục