1. Tổ chức đám cưới 2 lần
Người Hà Nhì sinh sống ở vùng đất giáp ranh Lai Châu và Lào Cai. Thanhniên Hà Nhì được tự do kết hôn, nếu bạn gái yêu mình thì chàng trai dẫn về nhà,thưa chuyện với cha mẹ xin cưới làm vợ.
Cả nhà đồng ý thì làm lễ trước bàn thờ “kính cáo” với tổ tiên gia đìnhmình có con dâu mới, sau đó nhà chú rể làm cỗ mời cả họ hàng và dân bản tới cùngvui.
Nếu có điều kiện thì nhà trai mang lễ sang nhà cô dâu, gồm mấy đồng bạctrắng (nhiều năm gần đây là tiền mặt), một con lợn khoảng 50kg, 50l rượu trắng,đôi gà sống cùng xôi nếp và trứng chia đều làm hai gói...
Ðây là lần cưới đầu tiên của chàng trai. Người vợ từ đó trở đi phải manghọ nhà chồng. Khi có con hoặc kinh tế gia đình khá giả thì người chồng phải tổchức đám cưới lần thứ hai... với chính vợ mình.
2. Sau hai lần ăn hỏi... mới được kết hôn
Ðó là phong tục đối với người con trai dân tộc Dao Ðỏ. Sau khi để ý từphiên chợ hay lễ hội của bản làng, nếu thích cô gái nào thì chàng trai về nóivới bố mẹ tới nhà gái hỏi tuổi người mình yêu.
Nếu hợp tuổi nhau thì gia đình chàng trai trao tặng nhà cô gái đồng bạctrắng. Nhà gái dù muốn gả con hay không thì lần xin hỏi đầu họ cũng đều từ chốinhận đồng bạc trắng ấy.
Một thời gian sau, nhà trai lại tới xin ăn hỏi lần hai, nếu ba ngày sau màkhông thấy nhà gái trả lại đồng bạc trắng thì nhà trai biết chắc họ đã đồng ýgả con cho nhà mình. Gia đình chàng trai chọn ngày lành tháng tốt mang lễ vậttới nhà cô gái.
Sau lễ ăn hỏi chính thức, cô dâu tương lai được gia đình tạo điều kiệnthời gian nhàn rỗi trong một năm để dệt may, thêu thùa hai bộ quần áo cưới từ sốvải và chỉ thêu do nhà trai đưa tới hôm lễ ăn hỏi chính thức.
Nổi bật nhất trong đám cưới của người Dao Ðỏ là trang phục của cô dâu vớichiếc khăn đỏ lớn trùm lên chiếc mũ đỏ màu cờ, đính nhiều nụ hoa tết từ len đỏ,cài xen những chiếc lắc đồng xinh xinh.
Mũ áo của cô dâu người Dao Ðỏ là một tác phẩm nghệ thuật độc đáo về màusắc và sự tinh xảo trong từng đường thêu hoa văn thổ cẩm truyền thống.
3. Cùng họ không được phép lấy nhau
Theo quan niệm truyền thống của người Mông, đã cùng mang tên họ giống nhauthì đều coi là có chung tổ tiên, coi nhau như họ hàng.
Trai gái yêu nhau mà phát hiện ra cùng có họ giống nhau (họ Giàng, họTráng, họ Thào, họ Cư, họ Má, họ Lừu)... dù họ xa bao nhiêu đời đi nữa, cũngkhông được phép lấy nhau.
Người Mông còn có tục bắt vợ. Khi đôi trai gái đồng ý cưới nhau, chàngtrai sẽ báo trước cho người yêu biết ngày và nơi mà cô sẽ bị “bắt.”
Theo tục lệ “bắt vợ” này, người con gái sẽ được đưa về nhà người yêu nhưmột “tù nhân.”
Sau ba ngày bị “bắt,” nếu cô gái không trốn khỏi nhà trai có nghĩa là côđã đồng ý cưới chàng trai. Sau đó, cha mẹ chàng trai nhờ ông mối chọn ngày lànhtháng tốt làm lễ cưới. Cô gái được trở về nhà để chuẩn bị tư trang và váy áo chođám cưới.
4. Cưới vợ sau 3 năm ở rể
Với người dân tộc Thái, khi chàng trai muốn cưới cô gái, anh ta thường rủbạn bè mang những chiếc khèn đến diễn tấu dưới cửa sổ nhà sàn các cô gái.
Qua thời gian tìm hiểu, chàng trai nào chọn được người yêu rồi sẽ nói vớicha mẹ để lo chuyện hôn nhân.
Theo tục lệ cũ, người con trai phải đến ở nhà người con gái trong ba thángtrước khi làm lễ cưới chính thức. Anh ta chỉ được phép ở gian đầu nhà sàn dànhcho khách nam giới và chỉ được phép mang theo một con dao để làm việc.
Sau thời gian “thử thách” ba tháng, nếu được bố mẹ vợ tương lai ưng ý,chàng trai sẽ trở về nhà báo cho bố mẹ mình biết. Lần này, anh ta mới được mangtư trang của mình đến nhà gái và ở đó suốt ba năm.
Lễ thành hôn chính thức chỉ được tiến hành sau ba năm. Sau ba năm đó, nếuđồng ý lấy chàng trai, cô gái sẽ búi tóc bằng trâm cài đầu và cái độn tóc giả dogia đình nhà trai mang đến. Cô gái nào không muốn cưới chàng trai sau ba năm đósẽ phản kháng bằng cách tự cắt tóc mình.
Sau lễ cưới, chú rể sẽ tiếp tục ở nhà gái từ một đến mười năm và chỉ đượcphép đưa vợ về nhà mình sau một nghi lễ đưa dâu long trọng.
Lần này, nàng dâu phải chuẩn bị nhiều quà biếu gia đình bên chồng như tấmáo khoác thật đẹp cho mẹ chồng, một bộ quần áo thật đẹp biếu bố chồng và nhữngtấm khăn piêu biếu cô bác bên chồng./.