Thị trường nông sản tuần qua: Giá càphê trong nước bật tăng trở lại

Người trồng càphê Việt Nam vẫn đang giữ tâm lý thận trọng và tiếp tục hạn chế bán ra với kỳ vọng giá sẽ sớm phục hồi, tạo ra một thế giằng co quyết liệt giữa cung và cầu.
Thu hoạch càphê ở xã IAPhìn, tỉnh Gia Lai. (Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN)

Khép lại một tuần giao dịch, giá càphê trong nước hiện dao động 95.500-96.000 đồng/kg, tăng 2.100-2.300 đồng/kg so với cuối tuần trước. Cụ thể, tại Đắk Lắk và Gia Lai, giá càphê đạt 96.000 đồng/kg; Lâm Đồng ở mức 95.500 đồng/kg.

Người trồng càphê Việt Nam vẫn đang giữ tâm lý thận trọng và tiếp tục hạn chế bán ra với kỳ vọng giá sẽ sớm phục hồi, tạo ra một thế giằng co quyết liệt giữa cung và cầu.

Trước tình hình xuất khẩu càphê Việt Nam xuất khẩu sang EU chiếm tỷ trọng cao, Thương vụ Việt Nam tại Thụy Điển (kiêm nhiệm Đan Mạch, Na Uy, Iceland và Latvia) khuyến nghị doanh nghiệp xuất khẩu càphê cần thay đổi căn bản phương thức sản xuất, kinh doanh để đáp ứng các tiêu chuẩn bền vững mới của EU, đặc biệt tại khu vực Bắc Âu.

Doanh nghiệp cần minh bạch thông tin về quy trình canh tác, điều kiện lao động, sử dụng nước và hóa chất, lượng phát thải cũng như tác động môi trường. Cả doanh nghiệp lớn và nhỏ trong chuỗi cung ứng đều phải cung cấp hồ sơ pháp lý và dữ liệu liên quan.

Đáng chú ý, Quy định chống phá rừng của EU (EUDR) được xem là yêu cầu bắt buộc. Doanh nghiệp phải xây dựng hệ thống lưu trữ hồ sơ đầy đủ, xác định chính xác tọa độ địa lý từng vùng trồng. Đây là thách thức lớn khi phần lớn sản lượng càphê Việt Nam đến từ các nông hộ nhỏ lẻ. Việc ứng dụng công nghệ truy xuất nguồn gốc không chỉ giúp tuân thủ quy định mà còn nâng cao hiệu quả quản lý chuỗi cung ứng.

Trên thị trường thế giới, kết thúc phiên giao dịch cuối tuần, giá càphê thế giới đồng loạt lao dốc do áp lực chốt lời sau chuỗi tăng nóng. Trên sàn London, giá càphê Robusta giao tháng 3/2026 giảm mạnh 70 USD xuống còn 3.689 USD/tấn. Trên sàn New York, giá càphê Arabica giao tháng 5/2026 giảm hơn 2,5 xu chốt ở mức 282,30 xu/lb (1 lb = 0,4535 kg).

Nông dân tách vỏ trấu khỏi hạt gạo ở Amritsar (Ấn Độ). (Ảnh: AFP/TTXVN)

Thị trường gạo châu Á tuần qua với diễn biến nhìn chung khá trầm lắng do nhu cầu yếu và nguồn cung dồi dào gây áp lực lên giá.

Tại Ấn Độ, giá gạo đồ 5% tấm đi ngang ở mức từ 350-356 USD/tấn. Gạo trắng 5% tấm cũng ổn định ở mức từ 347-352 USD/tấn. Một nhà giao dịch cho biết thị trường không có nhiều hoạt động do người mua vẫn tỏ ra thận trọng.

Trong khi đó, tại Việt Nam, giá gạo 5% tấm được chào bán ở mức từ 360-365 USD/tấn, không đổi so với hai tuần trước. Một nhà giao dịch tại Thành phố Hồ Chí Minh nhận định thị trường còn đối mặt với nhiều thách thức trong giai đoạn tới do nguồn cung toàn cầu dồi dào và các khách hàng lớn cắt giảm lượng mua. Đáng chú ý, Philippines dự kiến sẽ giảm nhập khẩu hàng tháng mức 400.000 tấn trước đây xuống còn 150.000 tấn kể từ tháng 3/2026.

Còn giá gạo 5% tấm của Thái Lan cũng không đổi, được chào bán ở mức 385 USD/tấn. Các nhà giao dịch cho biết nhu cầu vẫn rất yếu và không có giao dịch lớn nào được báo cáo. Một thương nhân cho hay khách hàng từ Philippines đã chuyển sang mua gạo Việt Nam do giá cạnh tranh hơn.

Còn trong nước giá lúa gạo hầu như đi ngang. Tại An Giang, giá lúa tươi OM 18 và Đài Thơm 8 dao động 6.500-6.700 đồng/kg; IR 50404 ở mức 5.400-5.500 đồng/kg; OM 5451 từ 5.800-6.000 đồng/kg; OM 4218 khoảng 6.200-6.400 đồng/kg; OM 34 từ 5.200-5.400 đồng/kg.

Gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 tăng 50 đồng/kg, lên 9.250-9.350 đồng/kg. Các loại gạo nguyên liệu xuất khẩu khác dao động: CL 555 từ 7.950-8.050 đồng/kg; IR 504 từ 8.000-8.100 đồng/kg; OM 18 từ 8.900-9.100 đồng/kg; OM 380 từ 7.600-7.770 đồng/kg; OM 5451 từ 8.800-8.900 đồng/kg; Sóc Thơm từ 7.500-7.600 đồng/kg. Gạo thành phẩm IR 504 ở mức 9.500-9.700 đồng/kg.

Phụ phẩm dao động 7.500-11.500 đồng/kg; trong đó tấm IR 504 ở mức 7.500-7.600 đồng/kg, cám 10.500-11.500 đồng/kg.

Tại các chợ lẻ, gạo Nàng Nhen có giá cao nhất 28.000 đồng/kg; Hương Lài 22.000 đồng/kg; thơm Thái hạt dài 20.000-22.000 đồng/kg; Nàng Hoa 21.000 đồng/kg; thơm Đài Loan 20.000 đồng/kg; Jasmine 13.000-14.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng 16.000 đồng/kg; Sóc thường 16.000-17.000 đồng/kg; gạo thường 12.000-13.000 đồng/kg; Sóc Thái 20.000 đồng/kg; gạo Nhật 22.000 đồng/kg.

Trái ngược với thị trường gạo châu Á, giá các mặt hàng ngũ cốc trên Sàn giao dịch Chicago (CBOT) đã đồng loạt tăng trong phiên cuối tuần, trong đó giá lúa mỳ chạm mức cao nhất nhiều tháng do giới đầu tư lo ngại về căng thẳng Mỹ-Iran.

Chốt phiên giao dịch ngày 28/2, giá lúa mỳ giao tháng 3/2026 tăng 1,8%, lên 5,8475 USD/bushel, sau khi chạm mức cao nhất kể từ cuối tháng 6/2026. Giá đậu tương tăng 0,4% lên 11,6825 USD/bushel và tiến gần mức đỉnh 20 tháng. Trong khi đó, giá ngô cũng tăng 0,6% và chốt ở mức 4,46 USD/bushel (1 bushel lúa mỳ/đậu tương = 27,2 kg; 1 bushel ngô = 25,4 kg).

Nông dân thu hoạch lúa mỳ. (Ảnh: THX/TTXVN)

Theo các nhà phân tích của công ty tư vấn Argus Media, sự không chắc chắn xung quanh tình hình Iran tiếp tục thúc đẩy thị trường đặt ra các khoản phí bảo hiểm rủi ro cho hàng hóa. Cùng với đó, thị trường ngũ cốc cũng nhạy cảm với các biến động của giá dầu.

Ngoài ra, thị trường đậu tương còn được hỗ trợ bởi kỳ vọng về nhu cầu xuất khẩu và nhiên liệu sinh học gia tăng. Một báo cáo cho biết Chính phủ Mỹ có kế hoạch yêu cầu các nhà máy lọc dầu lớn phải sản xuất thêm nhiên liệu sinh học để bù vào phần mà những nhà máy nhỏ được miễn theo đạo luật Tiêu chuẩn Nhiên liệu Tái tạo (RFS).

Thông tin này củng cố kỳ vọng rằng những thay đổi trong chính sách nhiên liệu sinh học của Mỹ sẽ thúc đẩy nhu cầu đối với các nguyên liệu đầu vào như dầu đậu tương, giúp đẩy giá loại hàng hóa này đi lên./.

(TTXVN/Vietnam+)

Tin cùng chuyên mục