Trả lời phỏng vấn phóng viên TTXVN tại Bắc Kinh về những cơ hội và thách thức trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế mà Đại hội XIV của Đảng đề ra, Giáo sư Phan Kim Nga, nghiên cứu viên cao cấp của Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Marx thuộc Viện Khoa học xã hội Trung Quốc, chuyên gia nghiên cứu về Việt Nam, cho biết tình hình quốc tế hiện nay mang đặc điểm “đa cực hóa gia tăng và các rủi ro, cơ hội đan xen," tạo ra những điều kiện đặc biệt để Việt Nam đạt được mục tiêu này, nhưng cũng mang đến những thách thức không nhỏ.
Báo cáo tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam (Đại hội XIV) đã nêu rõ các mục tiêu “phát triển đột phá” của Việt Nam giai đoạn 2026-2030 - trở thành quốc gia có thu nhập trung bình đến cao với nền công nghiệp hiện đại vào năm 2030; trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045.
Giáo sư Phan Kim Nga nhận định những thành tựu to lớn của Việt Nam trong 40 năm cải cách đã đưa đất nước từ một quốc gia nông nghiệp lạc hậu với GDP bình quân đầu người khoảng 100 USD, thành một quốc gia có thu nhập trung bình cao, và nhận được đánh giá cao từ các tổ chức quốc tế uy tín.
Đến năm 2025, GDP ước đạt 510 tỷ USD, xếp thứ 32 trên thế giới, với GDP bình quân đầu người khoảng 5.000 USD. Đặc biệt, chất lượng tăng trưởng kinh tế đã có những chuyển biến tích cực, với năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) đóng góp khoảng 47% vào tăng trưởng kinh tế.
Năm 2025, tốc độ tăng trưởng GDP đạt hơn 8% và mục tiêu tăng trưởng GDP năm 2026 sẽ từ 10% trở lên. Đến năm 2030, GDP bình quân đầu người dự kiến sẽ đạt khoảng 8.500 USD. Việt Nam đặt mục tiêu trở thành một quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045.
Theo Giáo sư Phan Kim Nga, cơ hội đối với Việt Nam trong quá trình thực hiện các mục tiêu đề ra rất nhiều.
Thứ nhất, tình hình quốc tế tạo ra những cơ hội để Việt Nam đạt được các mục tiêu phát triển. Việc tái cấu trúc công nghiệp toàn cầu và tăng cường hợp tác khu vực tạo điều kiện cho Việt Nam nâng cấp chuỗi công nghiệp. Là mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng ASEAN, Việt Nam đang thu hút năng lực sản xuất trung và cao cấp trong các lĩnh vực như đóng gói và kiểm thử bán dẫn, pin năng lượng mới…. Trong dự thảo báo cáo của Đại hội có đề cập “xây dựng các ngành công nghiệp chiến lược như bán dẫn và trí tuệ nhân tạo (AI)” phù hợp với xu hướng này.
Thứ hai, lợi ích mà các hiệp định thương mại khu vực đem lại. Việc thực hiện đầy đủ Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) và nâng cấp Khu vực Thương mại Tự do ASEAN đang mở ra thị trường lớn hơn cho các sản phẩm nông nghiệp có thế mạnh của Việt Nam như càphê, thủy sản và hàng dệt may. Bản dự thảo báo cáo đề xuất “thực hiện hiệu quả các hiệp định thương mại tự do và tham gia các sáng kiến liên kết kinh tế mới," có thể tận dụng các quy định khu vực để giảm rào cản thuế quan. Ví dụ, theo khuôn khổ RCEP, thuế xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang Trung Quốc và Nhật Bản đã được giảm xuống 0%.
Thứ ba, cơ hội hợp tác do sự phát triển của Trung Quốc mang lại. Bản dự thảo báo cáo nêu rõ sự cần thiết phải “tăng cường hợp tác thực chất với các nước láng giềng." Việc khởi công xây dựng tuyến đường sắt xuyên biên giới Trung Quốc-Việt Nam khổ tiêu chuẩn (đoạn Lào Cai-Hà Nội-Hải Phòng) năm 2026 sẽ rút ngắn thời gian vận chuyển giữa các khu công nghiệp phía Bắc Việt Nam và thị trường Tây Nam Trung Quốc, góp phần vào mục tiêu “đột phá trong cơ sở hạ tầng giao thông đa phương thức” nêu trong báo cáo. Đồng thời, công nghệ của Trung Quốc trong lĩnh vực kinh tế số và năng lượng xanh (như xây dựng nhà máy điện Mặt Trời và hợp tác công nghệ 5G) có thể trực tiếp hỗ trợ các nhiệm vụ “chuyển đổi số” và “phát triển kinh tế xanh” của Việt Nam.
Thứ tư, chuyển đổi xanh toàn cầu và cách mạng công nghệ tạo động lực cho Việt Nam vượt qua những nút thắt trong phát triển. Dự thảo báo cáo Đại hội coi “đổi mới khoa học công nghệ và chuyển đổi xanh” là những đột phá chiến lược, và xu hướng quốc tế hiện nay cung cấp hai sự hỗ trợ chính: cơ hội công nghiệp do sự mở rộng nhu cầu năng lượng xanh mang lại. Việt Nam cam kết “giảm phát thải khí nhà kính 8% vào năm 2030” và “đạt 6% diện tích khu bảo tồn biển," đồng thời có thể tận dụng nguồn vốn quốc tế (như Quỹ Khí hậu Xanh và nguồn vốn đối ứng cho cơ chế điều chỉnh biên giới carbon của EU) để thúc đẩy xây dựng các căn cứ điện gió ngoài khơi phía Nam và các khu công nghiệp quang điện mặt trời phía Bắc.
Thứ năm, cơ hội nảy sinh từ sự lan tỏa công nghệ của cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư. Việc ứng dụng rộng rãi các công nghệ như AI và dữ liệu lớn đã làm giảm rào cản bắt kịp cho các nước đang phát triển. Dự thảo báo cáo nhấn mạnh “xây dựng các trung tâm dữ liệu quốc gia” và “thúc đẩy ứng dụng AI trong sản xuất."
Hiện nay, các công ty công nghệ quốc tế (như Microsoft và Samsung) đang thành lập các trung tâm nghiên cứu và phát triển tại Việt Nam, điều này có thể thúc đẩy việc đào tạo nhân lực kỹ thuật trong nước. Đến năm 2025, dự kiến khoảng cách nhân tài trong nền kinh tế số của Việt Nam sẽ thu hẹp 40% so với năm 2020, cung cấp nguồn nhân lực hỗ trợ cho mục tiêu “nền kinh tế số chiếm 30% GDP." Đồng thời, hợp tác khoa học và công nghệ quốc tế có thể giúp Việt Nam vượt qua những nút thắt trong các lĩnh vực như bán dẫn và công nghệ lượng tử, phù hợp với yêu cầu của báo cáo về việc “nắm vững các công nghệ chiến lược cốt lõi."
Thứ sáu, việc Việt Nam tăng cường tiếng nói trong các cơ chế đa phương tạo ra môi trường bên ngoài thuận lợi. Báo cáo đề xuất “tăng cường vai trò trung tâm của Việt Nam trong các vấn đề ASEAN và châu Á-Thái Bình Dương," và những thay đổi hiện tại trong bối cảnh quốc tế đã tạo điều kiện cho mục tiêu này.
Trước tiên là cơ hội phối hợp phát sinh từ vai trò trung tâm ngày càng vững mạnh của Việt Nam trong ASEAN. Với việc Mỹ, Liên minh châu Âu (EU) và các nước khác tăng cường đầu tư vào ASEAN, Việt Nam, với tư cách là nước chủ tịch ASEAN (năm 2027), có thể tận dụng “xây dựng Cộng đồng ASEAN” để thúc đẩy việc xây dựng luật lệ khu vực - ví dụ, bằng cách dẫn đầu việc xây dựng các tiêu chuẩn trong các lĩnh vực như quản trị số và thương mại điện tử xuyên biên giới. Điều này không chỉ tăng cường tiếng nói quốc tế của Việt Nam mà còn cung cấp các đảm bảo về mặt thể chế cho “xây dựng xã hội số” trong nước, phù hợp với định hướng ngoại giao của Dự thảo báo cáo về “hình thành khuôn khổ hợp tác đa phương."
Ngoài ra, còn có dư địa hợp tác phát sinh từ sự trỗi dậy của các nước đang phát triển. Các nước thuộc khu vực Nam bán cầu đã đạt được sự đồng thuận mạnh mẽ hơn về các vấn đề như biến đổi khí hậu và tái cơ cấu nợ. Việt Nam có thể tận dụng truyền thống “không liên minh” của mình để kết nối với các nước thị trường mới nổi nhằm đảm bảo nhiều quyền phát triển hơn. Ví dụ, có thể thúc đẩy việc thực hiện “trách nhiệm chung nhưng có khác biệt” tại Hội nghị Khí hậu Liên Hợp Quốc, đảm bảo hỗ trợ quốc tế cho các dự án “thích ứng với biến đổi khí hậu” trong nước và hỗ trợ mục tiêu của Báo cáo về “xây dựng một xã hội có khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu."
Cùng với những cơ hội trên, theo Giáo sư Phan Kim Nga, Việt Nam cũng sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức trong quá trình thực hiện các mục tiêu đề ra như biến động kinh tế toàn cầu và nhu cầu bên ngoài giảm sút; rủi ro địa chính trị và thách thức an ninh đe dọa sự ổn định của môi trường phát triển; cạnh tranh công nghệ và nguy cơ “bẫy thu nhập trung bình” đang kìm hãm quá trình chuyển đổi./.
Trang thông tin đặc biệt về Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng do TTXVN xuất bản, có địa chỉ: https://daihoidang.vn là một chuyên trang quy mô lớn, cung cấp cho bạn đọc những thông tin chính thống, đầy đủ và kịp thời các hoạt động tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng với 5 loại hình thông tin (văn bản, ảnh, video, đồ họa và dữ liệu), bằng 6 ngôn ngữ Việt, Anh, Pháp, Nga, Tây Ban Nha và Trung Quốc.
Xác lập những quyết sách chiến lược mang tính “bệ phóng” cho tương lai đất nước
Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh Đại hội XIV của Đảng có trọng trách lịch sử xác lập những quyết sách mang tính “bệ phóng” để thực hiện thành công hai mục tiêu chiến lược 100 năm của đất nước.