Trong kỷ nguyên số, sở hữu trí tuệ không còn là câu chuyện riêng của giới sáng tạo, mà đã trở thành thước đo năng lực cạnh tranh và uy tín của mỗi quốc gia. Một nền kinh tế muốn bứt tốc bằng đổi mới sáng tạo không thể dung dưỡng những “chợ đen” bản quyền tồn tại công khai trên không gian mạng.
Trong bối cảnh vi phạm bản quyền trực tuyến ngày càng tinh vi, Công điện số 38/CĐ-TTg được xem như lời cảnh báo mạnh mẽ, khẳng định quyết tâm của Việt Nam trong việc siết chặt thực thi quyền sở hữu trí tuệ, bảo vệ môi trường đầu tư minh bạch và xây dựng hình ảnh một quốc gia thượng tôn pháp luật.
Vi phạm bản quyền ngày càng tinh vi
Mới đây Hiệp hội Sáng tạo và Bản quyền tác giả Việt Nam (VCCA) vừa tổ chức thành công Đại hội Đại hội đại biểu lần thứ II, nhiệm kỳ 2026-2031 với quyết tâm cao về bảo vệ bản quyền.
Ông Nguyễn Hải Bình, Phó Chủ tịch Hiệp hội cho rằng Công điện 38/CĐ-TTg phát đi một thông điệp rất rõ: Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ không còn là câu chuyện riêng của từng doanh nghiệp, từng nghệ sỹ mà là vấn đề của môi trường kinh doanh, của công nghiệp văn hóa, và xa hơn là của năng lực cạnh tranh quốc gia.
Ở góc độ Hiệp hội, ông Nguyễn Hải Bình cho rằng đại hội lần này của Hiệp hội như một điểm nối - quyết tâm chính sách từ trên xuống cần được tiếp sức bằng năng lực thực thi từ dưới lên, bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý và xử lý nhưng để phát hiện vi phạm nhanh, nhận diện chủ thể quyền chính xác, lượng hóa thiệt hại, chuẩn hóa dữ liệu bản quyền, kết nối với nền tảng số và tổ chức quốc tế rất cần vai trò của một hiệp hội chuyên ngành.
“Hiệp hội Sáng tạo và Bản quyền tác giả Việt Nam nhiệm kỳ II xác định mình phải đứng đúng vào khoảng trống đó. Không làm thay cơ quan nhà nước, không làm thay doanh nghiệp, mà tạo ra cơ chế phối hợp để các bên hành động nhanh hơn, minh bạch hơn, hiệu quả hơn,” ông Bình nói.
Từ góc nhìn quốc tế, giảng viên Christian Berg (Đại học RMIT Việt Nam) cho hay khoảng cách giữa chính sách và thực tiễn thực thi vẫn còn khá lớn.
Chính ông cũng đã từng bị các trang web thương mại sử dụng tác phẩm nhiếp ảnh mà không ghi nguồn, không trả phí hay xin phép.
“Kiểu vi phạm này khá phổ biến, được nhiều người biết đến nhưng thường không được giải quyết triệt để. Các nhà sáng tạo cá nhân tại Việt Nam hiếm khi có đủ nguồn lực và hỗ trợ pháp lý để tự theo đuổi các vụ việc này, khiến ngay cả những chỉ thị tích cực cũng khó phát huy hiệu quả ở cấp độ cá nhân,” ông Berg nói.
Ông cũng cho rằng bất kỳ cuộc thảo luận nào về bảo vệ sở hữu trí tuệ tại Việt Nam đều cần nhìn nhận thêm yếu tố nhu cầu tiêu dùng dẫn đến nạn vi phạm bản quyền.
Theo đó, các nội dung quốc tế như phim ảnh, chương trình truyền hình, thể thao phát sóng trực tiếp, trò chơi và âm nhạc trước đây thường đến Việt Nam chậm, bị giới hạn hoặc thậm chí không xuất hiện. Khi việc tiếp cận hợp pháp bị hạn chế, quá đắt đỏ hoặc đơn giản là không khả dụng, người tiêu dùng có xu hướng tìm đến các lựa chọn không được cấp phép.
Ở góc độ doanh nghiệp, ông Mai Như Ngọc, Phó Giám đốc TV360 (Viettel Telecom) cho rằng vi phạm bản quyền trên nền tảng số đã trở thành một chuỗi kinh doanh ngầm khá tinh vi, vận hành gần giống một hệ sinh thái: Có nguồn lấy nội dung, có nền tảng phát tán, có quảng cáo, có cộng đồng người dùng, thậm chí có cả cách tối ưu công cụ tìm kiếm và mạng xã hội để kéo traffic.
Với phim, đó là các website, app, hội nhóm chia sẻ link, re-up nội dung hoặc cắt nhỏ thành nhiều đoạn ngắn. Với nhạc, vi phạm nằm ở việc sử dụng trái phép trên video ngắn, livestream, sự kiện, nền tảng không khai báo đầy đủ quyền. Với game, tình trạng còn phức tạp hơn vì liên quan đến việc dùng tài sản trí tuệ của game để khai thác thương mại.
Theo ông Mai Như Ngọc, điểm đáng lo là vi phạm bản quyền ngày nay không chỉ nằm ở những kho lậu truyền thống. Nó đã dịch chuyển sang mạng xã hội, nền tảng nhắn tin, video ngắn và các mô hình phát tán phi tập trung hơn.
Ở Việt Nam, việc xử lý các đường dây phát tán nội dung lậu lớn thời gian qua cho thấy quy mô của vấn đề không còn nhỏ. Từ góc độ thị trường, bản quyền không chỉ là câu chuyện đạo đức hay pháp lý mà là nền móng của kinh tế sáng tạo, đặc biệt trong bối cảnh Nghị quyết 80 của Bộ Chính trị đặt ra mục tiêu phát triển công nghiệp văn hóa trong thời đại mới.
“Khi một bộ phim, một trận đấu, một ca khúc hay một tựa game bị khai thác trái phép, thiệt hại không dừng ở doanh thu bị mất. Nó làm méo mó toàn bộ thị trường: Doanh nghiệp hợp pháp phải bỏ chi phí mua bản quyền lên tới hàng tỷ, thậm chí hàng chục hàng trăm tỷ rồi kiểm duyệt, hạ tầng, marketing, chăm sóc khách hàng trong khi nền tảng vi phạm gần như không chịu chi phí tương ứng nhưng vẫn kiếm tiền từ quảng cáo hoặc dữ liệu người dùng,” ông Mai Như Ngọc nêu rõ.
Kích hoạt 'dòng tiền hợp pháp'
Công điện 38 đã mở ra một thời điểm rất quan trọng nhưng sau một công điện phải là một cơ chế. Sau một chiến dịch phải là một hạ tầng. Sau một thông điệp mạnh mẽ phải là những dòng tiền hợp pháp chảy về đúng người sáng tạo.
Đó là quan điểm mà ông Nguyễn Hải Bình nêu rõ tại Đại hội Hiệp hội Sáng tạo và Bản quyền tác giả Việt Nam.
Hiệp hội cũng đã đề xuất 3 nhóm giải pháp bổ sung cho Công điện 38.
Đầu tiên là thúc đẩy tiêu dùng văn hóa hợp pháp, khuyến khích người dân, đặc biệt là học sinh, sinh viên và người trẻ, tiếp cận sản phẩm văn hóa có bản quyền. Mục tiêu không chỉ là thu thêm tiền cho ngành, mà là hình thành một chuẩn mực xã hội mới: sử dụng nội dung hợp pháp là hành vi văn minh, có trách nhiệm với người sáng tạo.
Hai là biến quyền tác giả thành tài sản có thể đầu tư. Để có thể làm điều này thì cần chuẩn hóa thông tin về chủ sở hữu, tác phẩm, quyền khai thác, thời hạn, phạm vi lãnh thổ, lịch sử cấp phép và doanh thu. Khi dữ liệu đủ rõ, catalog âm nhạc, kho phim, thư viện hình ảnh, format chương trình hay tài sản sáng tạo khác mới có thể được định giá, góp vốn, chuyển nhượng, thế chấp hoặc đưa vào các cấu trúc đầu tư chuyên nghiệp.
Ba là thiết lập môi trường công bằng giữa doanh nghiệp trong nước và nền tảng xuyên biên giới. Nội dung Việt Nam tạo ra giá trị rất lớn trên các nền tảng số, nhưng giá trị đó phải được ghi nhận đúng, phân bổ đúng và dẫn về đúng chủ sở hữu quyền. Nếu doanh nghiệp trong nước phải tuân thủ nghiêm túc, các nền tảng nước ngoài cũng cần đáp ứng chuẩn mực tương xứng khi khai thác thị trường Việt Nam.
Theo ông Nguyễn Hải Bình, một ngành công nghiệp không thể lớn lên chỉ bằng xử phạt. Nó cần dòng tiền hợp pháp, cần người tiêu dùng sẵn sàng trả tiền, cần doanh nghiệp nhìn thấy khả năng thu hồi vốn, cần nhà đầu tư tin rằng quyền tác giả là tài sản có thể định giá, giao dịch và khai thác lâu dài. Nói cách khác, chúng ta phải "đi bằng hai chân" là siết nguồn cung vi phạm và kích hoạt nhu cầu tiêu dùng hợp pháp.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy các quốc gia có công nghiệp văn hóa phát triển đều không chỉ chống vi phạm họ đồng thời xây dựng hạ tầng thanh toán, phát triển nền tảng phân phối hợp pháp, khuyến khích công chúng trả tiền cho sản phẩm văn hóa, và tạo ra niềm tự hào xã hội đối với việc ủng hộ người sáng tạo trong nước.
Chia sẻ giải pháp, ông Ricardo Arce, Chủ nhiệm bộ môn Thiết kế (Truyền thông số) tại Đại học RMIT Việt Nam cho rằng các nhà sáng tạo nên đăng ký bản quyền chính thức và lưu giữ bằng chứng về nguồn gốc, quyền sở hữu cũng như quá trình tạo ra nội dung.
Thứ hai, các nhà sáng tạo nên tham gia các hiệp hội ngành nghề nhằm củng cố cộng đồng sáng tạo và tiếp cận các nguồn lực, thông tin, hoạt động vận động chính sách và đại diện quyền lợi liên quan.
Chia sẻ với phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus, ông Mai Như Ngọc cho rằng việc thực thi pháp luật về sở hữu trí tuệ cần nhanh hơn và mạnh hơn bởi nội dung số có đặc điểm là tốc độ lan truyền rất nhanh, nếu quy trình xử lý kéo dài thì giá trị thương mại của nội dung đã mất gần hết.
Nhóm giải pháp thứ hai là trách nhiệm của các nền tảng trung gian. Không thể chỉ xử lý người đăng tải cuối cùng mà cần có sự phối hợp của nhà mạng, nền tảng mạng xã hội, công cụ tìm kiếm, đơn vị quảng cáo, ví điện tử, cổng thanh toán.
Sau cùng, doanh nghiệp nội dung phải làm tốt phần của mình. Muốn khán giả rời bỏ nội dung lậu, dịch vụ hợp pháp phải đủ thuận tiện, giá hợp lý, chất lượng ổn định, phụ đề tốt, thanh toán dễ, trải nghiệm xem “mượt.”
“Người dùng không chỉ trả tiền cho một bộ phim hay một bài hát, họ trả tiền cho sự an tâm, chất lượng và cảm giác được tôn trọng. Nếu nội dung hợp pháp đến muộn, khó tìm, nhiều rào cản, trải nghiệm kém, thì chúng ta vô tình đẩy một phần khán giả về phía nội dung lậu,” ông Mai Như Ngọc bày tỏ.
Bản quyền trước "cơn lốc" AI: Xây "tuyến phòng thủ" cho giá trị sáng tạo Việt
Chống vi phạm bản quyền không nên được hiểu là cuộc chiến của riêng một vài hãng phim, hãng nhạc, nhà phát hành game hay nền tảng OTT. Đó là điều kiện để xây dựng một thị trường nội dung số lành mạnh. Khi bản quyền được bảo vệ, doanh nghiệp mới dám đầu tư lớn hơn, nghệ sỹ và nhà sản xuất mới sống được bằng sáng tạo, còn khán giả sẽ được hưởng một hệ sinh thái nội dung phong phú, văn minh và chuyên nghiệp hơn./.