Chuyển mạnh từ tăng trưởng dựa trên sản lượng sang chất lượng

Sáng 25/9, Phó Thủ tướng Phạm Gia Túc làm việc với một số doanh nghiệp xuất khẩu tiêu biểu ngành hàng nông, lâm, thủy sản, trong đó, chỉ đạo cần lấy phát triển chuỗi giá trị làm định hướng xuyên suốt.
Quang cảnh buổi làm việc. (Ảnh: Chu Thanh Vân/TTXVN)

Sáng 25/9, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc làm việc với một số hiệp hội và doanh nghiệp xuất khẩu tiêu biểu ngành hàng nông, lâm, thủy sản.

9 tháng, xuất khẩu ước đạt 56,3 tỷ USD

Báo cáo về tình hình thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu trong lĩnh vực nông, lâm, thủy sản, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Võ Văn Hưng cho biết, kim ngạch xuất khẩu 9 tháng ước đạt 56,3 tỷ USD, tăng 7,8%, bằng khoảng 75,9% mục tiêu kế hoạch đề ra là 74,2 tỷ USD. Nhập khẩu ước đạt 39,4 tỷ USD.

Một tín hiệu tích cực là xuất siêu trong lĩnh vực nông, lâm, thủy sản đạt 16,9 tỷ USD. Lĩnh vực này không những tạo công ăn việc làm mà còn xuất siêu; so với tháng 8, con số này đã tăng thêm gần 2 tỷ USD. Đáng chú ý, riêng tháng 9/2026, xuất khẩu ước đạt 6,51 tỷ USD, cho thấy nhịp độ xuất khẩu vẫn được duy trì tương đối tốt.

Theo Thứ trưởng Võ Văn Hưng, đã hình thành khá rõ các động lực tăng trưởng chủ yếu. Kim ngạch xuất khẩu rau quả 9 tháng đạt 7,35 tỷ USD, tăng 19,9%; thủy sản đạt khoảng 9,17 tỷ USD, tăng 12,3%; lâm sản đạt gần 14,4 tỷ USD, tăng 7,6%; sản phẩm chăn nuôi tăng khoảng 24,6%. Tuy nhiên, tăng trưởng giữa các ngành hàng chưa đồng đều, còn vấn đề về chất lượng tăng trưởng.

Đơn cử, kim ngạch xuất khẩu càphê ước 9 tháng tăng 15,4% về sản lượng nhưng giảm 7,3% về giá trị, do giá xuất khẩu bình quân giảm khoảng 20%. Gạo giảm khoảng 10,9% về giá trị; cao su giảm 4,4%; sắn và sản phẩm sắn giảm 4,5%.

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc phát biểu chỉ đạo. (Ảnh: Chu Thanh Vân/TTXVN)

Thị trường tiếp tục mở rộng song mức độ tập trung tại một số thị trường lớn còn cao. Trung Quốc hiện chiếm khoảng 24,4%, Hoa Kỳ chiếm 19,8%, Nhật Bản chiếm 7,4% tổng kim ngạch.

Thứ trưởng Võ Văn Hưng nhận định, mục tiêu xuất khẩu năm 2026 có thể đạt và vượt mức 74,2 tỷ USD nếu duy trì được nhịp độ xuất khẩu hiện nay và không xuất hiện những biến động lớn về giá cả, đơn hàng, logistics và chính sách thị trường.

Song điều đó không đồng nghĩa các ngành hàng đều hoàn thành mục tiêu kế hoạch. Theo dự báo, gỗ và sản phẩm gỗ, rau quả, thủy sản có thể vượt kế hoạch. Trong khi đó, ngành hàng càphê có thể thiếu hụt 1,4 tỷ USD; gạo thiếu khoảng 348 triệu USD; hạt điều, sắn và một số sản phẩm khác có nguy cơ không đạt kế hoạch.

Trong quý 4, theo Thứ trưởng Võ Văn Hưng, cần giữ vững mục tiêu ổn định, tăng trưởng, phấn đấu vượt kế hoạch nhưng không chạy theo kim ngạch bằng mọi giá; giữ chắc ba trụ cột gồm gỗ và sản phẩm gỗ, thủy sản, rau quả; đồng thời điều hành xuất khẩu theo từng ngành hàng, từng thị trường và tập trung xử lý các điểm nghẽn.

Ông nhấn mạnh yêu cầu chuyển từ mở cửa thị trường sang “mở được, vào được và giữ được thị trường.”

Kiến nghị tháo gỡ điểm nghẽn về nguyên liệu, tín dụng, thị trường

Ông Đỗ Ngọc Tài, Chủ tịch Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) cho biết, nuôi trồng thủy sản là nguồn nguyên liệu nền tảng của nhiều sản phẩm xuất khẩu chủ lực. Tuy nhiên, đầu tư vùng nuôi có chu kỳ dài, đòi hỏi quỹ đất, mặt nước, mặt biển và hạ tầng ổn định; trong khi quỹ đất nuôi còn phân tán, thời hạn và thủ tục giao/thuê chưa phải lúc nào cũng tương thích với nhu cầu đầu tư công nghệ cao, hệ thống xử lý nước, điện, thủy lợi.

Ông kiến nghị Chính phủ và Bộ Nông nghiệp và Môi trường xem xét sửa đổi quy định thời gian cho thuê đất phục vụ nuôi trồng thủy sản và phát triển nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu lên 40-50 năm.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường, lãnh đạo các địa phương duy trì và gia tăng diện tích (trên bờ, trên sông, trên mặt biển) có thể quy hoạch phát triển nuôi trồng thủy sản, tạo sinh kế, phát triển kinh tế thủy sản lâu dài cho địa phương và năng lực ngành hàng của quốc gia.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp Bộ Nội vụ chủ trì xây dựng Đề án bảo đảm nguồn nhân lực cho các ngành sản xuất, chế biến nông - thủy sản thâm dụng lao động.

Ông Nguyễn Nam Hải, Chủ tịch Hiệp hội Càphê - Cacao Việt Nam kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường thúc đẩy xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về ngành càphê, gồm vùng trồng, tọa độ địa lý, chủ thể sản xuất, diện tích, sản lượng, tình trạng pháp lý đất đai, truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn bền vững, dữ liệu phát thải carbon và dữ liệu phục vụ quy định về chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR).

Ngân hàng Nhà nước tăng hạn mức tín dụng và giảm lãi suất cho doanh nghiệp tham gia xuất khẩu càphê để hạ giá thành, tăng tính cạnh tranh; có chính sách ưu đãi tín dụng cho doanh nghiệp đầu tư chế biến sâu như càphê hòa tan, càphê rang xay.

Ông cũng đề nghị Bộ Công Thương xây dựng chương trình quốc gia nâng cao giá trị và thương hiệu càphê Việt Nam; hỗ trợ xây dựng và quảng bá thương hiệu càphê Robusta Việt Nam, xúc tiến thương mại, kết nối thị trường cho các sản phẩm càphê chế biến sâu. Bộ Ngoại giao đẩy mạnh ngoại giao kinh tế, mở rộng thị trường và hỗ trợ thúc đẩy các thị trường mới như Trung Đông, Trung Quốc và Đông Âu.

Nêu thực tế Việt Nam trở thành quốc gia xuất khẩu gạo lớn thứ hai thế giới trong khi khoảng 20 triệu nông dân trồng lúa vẫn có thu nhập thấp so với nhiều ngành sản xuất nông nghiệp khác, Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam Đỗ Hà Nam, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần Tập đoàn Intimex cho rằng nguyên nhân là giá giảm, bộc lộ điểm yếu của chuỗi lúa gạo.

Theo ông Đỗ Hà Nam, cần tạo điều kiện để nông dân có thể giữ lúa và chủ động thời điểm bán. Muốn người nông dân không phải bán ngay khi vào vụ, chuỗi phải có năng lực thu mua và tạm trữ đủ lớn. Chính phủ chỉ đạo Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng ưu tiên hạn mức tín dụng, thời hạn vay và lãi suất phù hợp cho các doanh nghiệp có năng lực thu mua, dự trữ, chế biến và xuất khẩu gạo, đặc biệt trong thời điểm thu mua rộ. Trên cơ sở đó, doanh nghiệp có thể tăng khả năng thu mua, ứng vốn và phối hợp với các hợp tác xã để nông dân có điều kiện trữ lúa thay vì buộc phải bán ngay khi nguồn cung lớn.

“Mục tiêu không phải là Nhà nước giữ giá mà tạo năng lực tài chính cho chuỗi để người nông dân không buộc phải bán vào thời điểm bất lợi nhất,” ông Nam nói.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Võ Văn Hưng phát biểu tại buổi làm việc. (Ảnh: Chu Thanh Vân/TTXVN)

Phát triển chuỗi giá trị, lấy hiệu quả xuất khẩu và thu nhập người sản xuất làm thước đo

Tại buổi làm việc, lãnh đạo các Bộ Ngoại giao, Công Thương, Tài chính trao đổi, giải đáp nhiều ý kiến, kiến nghị của doanh nghiệp, đồng thời khẳng định đồng hành cùng doanh nghiệp để giải quyết các vướng mắc, khó khăn, có chính sách hỗ trợ thúc đẩy xuất khẩu; mong muốn tăng cường trao đổi trực tiếp để nắm bắt thông tin, tư vấn, cảnh báo thị trường…

Khẳng định tinh thần Chính phủ sẽ tháo gỡ mọi khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp, hiệp hội, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc ghi nhận các ý kiến phát biểu trách nhiệm, xây dựng và thực tiễn. Các kiến nghị sẽ được các bộ, ngành tổng hợp, giải quyết theo phạm vi thẩm quyền.

Phó Thủ tướng cho rằng, phát triển nông, lâm, thủy sản không chỉ nhằm tăng kim ngạch xuất khẩu mà phải gắn với tái cơ cấu toàn diện ngành nông nghiệp theo hướng hiện đại, sinh thái, giá trị gia tăng cao và phát triển bền vững; chuyển mạnh từ tăng trưởng dựa trên sản lượng sang tăng trưởng dựa trên chất lượng, chế biến sâu, xây dựng thương hiệu, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Cùng với đó, chuyển từ mô hình sản xuất, thu mua, xuất khẩu sang nghiên cứu thị trường, tổ chức vùng nguyên liệu, kiểm soát giống và đầu vào, tiêu chuẩn hóa sản xuất, chế biến sâu, xây dựng thương hiệu, tổ chức phân phối quốc tế, duy trì và mở rộng thị phần.

Theo Phó Thủ tướng, cần lấy phát triển chuỗi giá trị làm định hướng xuyên suốt, trong đó doanh nghiệp là trung tâm tổ chức chuỗi sản xuất, chế biến và tiêu thụ; hợp tác xã là cầu nối tổ chức sản xuất; nông dân là chủ thể trực tiếp tạo ra sản phẩm; Nhà nước giữ vai trò kiến tạo phát triển, hoàn thiện thể chế, đầu tư hạ tầng và tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, minh bạch.

Chuyển mạnh từ quản lý theo lĩnh vực sang quản trị theo chuỗi giá trị và ngành hàng, lấy hiệu quả xuất khẩu, năng lực cạnh tranh và thu nhập của người sản xuất làm thước đo, đánh giá kết quả thực hiện.

Phó Thủ tướng cũng nhấn mạnh yêu cầu đổi mới phương thức điều hành, từ quản lý hành chính sang điều hành dựa trên dữ liệu số. Hình thành hệ thống dữ liệu quốc gia về sản xuất, chế biến, logistics và thị trường, hỗ trợ Chính phủ dự báo, điều hành và xử lý kịp thời các biến động. Mục tiêu phấn đấu đến năm 2030 đạt kim ngạch 100 tỷ USD.

Phó Thủ tướng Phạm Gia Túc khẳng định Chính phủ tiếp tục cải cách hành chính, cải thiện điều kiện kinh doanh, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, giảm chi phí tuân thủ ở mức thấp nhất. Trong quá trình triển khai, nếu phát sinh vấn đề, các hiệp hội, doanh nghiệp tiếp tục kiến nghị, Thủ tướng sẽ giải quyết kịp thời, không phải chờ đến các cuộc họp định kỳ./.

​

(TTXVN/Vietnam+)

Tin cùng chuyên mục