Khung hoang nang luong - hoi chuong canh tinh ve nhien lieu hoa thach hinh anh 1Các nền kinh tế đang mở cửa trở lại, kéo theo nhu cầu sử dụng năng lượng nhiều hơn.(Nguồn: business-standard.com)

Nguy cơ một cuộc khủng hoảng năng lượng vào đúng thời điểm nhạy cảm khi mùa Đông lạnh giá tới gần và các nền kinh tế đang mở cửa trở lại, kéo theo nhu cầu sử dụng năng lượng nhiều hơn, đang là mối lo chung của nhiều chính phủ, doanh nghiệp và người dân, đặc biệt ở châu Âu và châu Á.

Hệ quả từ nhiều yếu tố

Tại châu Âu, cuộc khủng hoảng năng lượng manh nha từ mùa Đông năm ngoái, khi thời tiết giá lạnh bất thường khiến nhu cầu sưởi ấm tăng vọt, làm giảm nghiêm trọng lượng khí đốt dự trữ xuống mức đáng lo ngại là 30% vào tháng Ba.

Đến mùa Xuân, nhờ chiến dịch tiêm vaccine ngừa COVID-19, hoạt động kinh doanh và tiêu dùng tại châu Âu tăng trở lại, thúc đẩy nhu cầu tiêu thụ năng lượng.

Nhu cầu tiếp tục gia tăng trong mùa Hè vừa qua khi thời tiết nóng bức khiến người dân sử dụng điều hòa và các hệ thống làm mát nhiều hơn.

Trong khi đó, nhu cầu tăng không đi kèm với sự gia tăng dòng khí đốt của Nga, Na Uy và Algeria cung cấp cho châu Âu.

[Liên minh châu Âu sẽ khuyến khích các quốc gia giảm thuế năng lượng]

Một lý do nội tại nữa là Liên minh châu Âu (EU) thu hẹp sản xuất điện từ than, do đó các nhà máy điện buộc phải tăng dùng khí đốt, trong khi nguồn điện từ năng lượng tái tạo như điện gió vẫn chưa đủ để đáp ứng nhu cầu.

Thuế bảo vệ môi trường áp lên các nguồn năng lượng hóa thạch cũng làm tăng giá khí và điện bán ra ở châu Âu.

Châu Á cũng đã tái khởi động nền kinh tế, song các nguồn cung năng lượng đều không đáp ứng được nhu cầu.

Trung Quốc, nền kinh tế lớn nhất châu lục đang trải qua giai đoạn thiếu điện trầm trọng do áp lực từ mục tiêu giảm phát thải và giá than tăng mạnh.

Trong giai đoạn từ tháng 1-8 năm nay, tiêu thụ điện năng ở Trung Quốc đã tăng vọt 13% so với cùng kỳ năm 2020.

Đợt nắng nóng ở những tỉnh sản xuất công nghiệp lớn nhất của Trung Quốc hồi mùa Hè đã đẩy lượng điện tiêu thụ điện tại các địa phương này tăng lên mức cao chưa từng có trong lịch sử.

Trong khi đó, sản lượng điện giảm, một phần vì các nhà máy điện than, vốn chiếm khoảng 60% lượng điện tiêu thụ của Trung Quốc năm ngoái, giảm hoạt động sản xuất.

Ngoài việc giá than tăng vọt khi Trung Quốc ban hành lệnh cấm khai thác các mỏ than đá mới và đóng cửa 1.000 mỏ than trên toàn quốc, yêu cầu phải đáp ứng các tiêu chuẩn giảm khí thải trong sản xuất và tiêu thụ điện năng cũng là yếu tố khiến sản lượng điện than giảm mạnh.

Có thể thấy cuộc khủng hoảng năng lượng tại châu Âu hay châu Á là hệ quả của nhiều yếu tố, từ nhu cầu tăng cao, nguồn cung hạn chế và bị phụ thuộc cho tới các chính sách năng lượng của chính phủ.

Một nguyên nhân nữa, theo tạp chí The Economist của Anh, là sự sụt giảm đầu tư vào các giếng dầu, mỏ khí đốt tự nhiên và mỏ than. Đây một phần là “tàn tích” của thời kỳ dồi dào nguồn cung năng lượng, với nhiều năm đầu tư quá mức dẫn đến xu hướng kiểm soát nguồn vốn chặt chẽ hơn.

Ngoài ra, việc thiếu các kho vận chuyển khí hóa lỏng LNG từ nơi sẵn có (Mỹ) đến nơi đang thiếu hụt (châu Á và châu Âu) cũng là một vấn đề.

Do sẽ mất nhiều thời gian để xây dựng cơ sở vật chất cho quá trình này, sự thiếu hụt năng lực dự phòng của các kho ở Mỹ dự kiến sẽ kéo dài ít nhất cho đến năm 2025.

Giải pháp cho bài toán an ninh năng lượng

Nhằm giải quyết "cơn khát" năng lượng trước mắt, Trung Quốc đang hướng tới cho phép các nhà máy nhiệt điện than tăng giá bán điện, buộc các công ty điện lực quốc doanh tiếp tục cung cấp điện kể cả khi thua lỗ, tăng sản lượng than trong nước và cuối cùng là nhập khẩu nhiều than hơn.

Tuy nhiên, giới chuyên gia nhận định việc Trung Quốc tăng cường sử dụng than có thể coi là một điều chỉnh mang tính tình thế, còn trong dài hạn, nước này vẫn sẽ tiếp tục giữ vững các cam kết về khí hậu đã đặt ra.

Vừa kiềm chế giá điện, vừa đảm bảo cắt giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính cũng đang là bài toán với châu Âu, bởi "lục địa Già" vẫn phải dựa vào khí đốt để phát điện, dù tỷ trọng năng lượng tái tạo đã cao hơn.

Bà Elena Anankina, chuyên gia phân tích tín dụng của tổ chức xếp hạng tín nhiệm S&P Global Ratings (Mỹ), nhận định với tình trạng chênh lệch cung cầu hiện tại, châu Âu không hy vọng sẽ sớm tìm được một giải pháp lâu dài, bởi sự phụ thuộc của “lục địa già” vào nhập khẩu là một trong những nguyên nhân gây nên áp lực nguồn cung. Hiện EU phải nhập khẩu đến 90% lượng khí đốt tiêu thụ.

Trước mắt, Ủy ban châu Âu (EC) đã nhóm họp nhằm xác định mức giảm thuế giá trị gia tăng và thuế tiêu thụ đặc biệt áp cho điện năng, cũng như xác định mức độ trợ cấp cho doanh nghiệp và hộ gia đình chịu ảnh hưởng do việc tăng giá khí đốt và điện. EU cũng đang lên kế hoạch lập kho dự trữ khí đốt chiến lược của khối.

Về dài hạn, Chủ tịch EC Ursula von der Leyen cho rằng EU cần đầu tư vào các nguồn năng lượng tái tạo, qua đó có thể giúp liên minh này không phụ thuộc quá nhiều vào nguồn cung nhập khẩu, đồng thời có thể bình ổn giá năng lượng.

Xu hướng chuyển đổi sang các nguồn năng lượng sạch trên toàn cầu cũng góp phần giúp giảm áp lực từ việc giá dầu tăng cao đối với các nước.

Khung hoang nang luong - hoi chuong canh tinh ve nhien lieu hoa thach hinh anh 2Ảnh minh họa. (Nguồn: thestreet.com)

Năm 2019, khoảng gần 20% nhu cầu tiêu thụ năng lượng của châu Âu đến từ các nguồn tái tạo như năng lượng gió và năng lượng Mặt Trời, tăng so với mức 9,6% trong năm 2004.

Theo dự báo của Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA), đến năm 2050, các nguồn năng lượng tái tạo (bao gồm thủy điện) sẽ tăng tỷ trọng và chiếm tới 49% sản lượng điện toàn cầu.

Trong số các nguồn năng lượng tái tạo, sản lượng điện Mặt Trời sẽ có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất, trong khi thủy điện có tốc độ tăng trưởng chậm nhất.

Chuyển đổi mô hình cung cấp năng lượng, đảm bảo sự hài hòa giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường và mục tiêu chống biến đổi khí hậu đang trở thành "phép thử" đối với các nước, song đây có lẽ là lựa chọn tối ưu khi tìm kiếm đáp án cho bài toán bảo đảm an ninh năng lượng./.

Khánh Ly (TTXVN/Vietnam+)