Quốc hội khóa III (1964-1971), được tổ chức theo Hiến pháp năm 1960, là Quốc hội của thời kỳ đất nước thực hiện cả hai chiến lược cách mạng, thời kỳ chống Mỹ cứu nước "tất cả cho tiền tuyến, tất cả để thắng giặc Mỹ xâm lược."
Miền Bắc tiến hành công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội; Miền Nam đẩy mạnh cuộc đấu tranh giải phóng. Cao trào thi đua yêu nước dâng lên mạnh mẽ chưa từng có.
Hoạt động Quốc hội đã đóng góp quan trọng vào việc hoàn thành nhiệm vụ khôi phục và xây dựng kinh tế ở miền Bắc, đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống Mỹ, cứu nước ở miền Nam.
Quốc hội đã có những quyết sách phù hợp về dân chủ, quan tâm đến lợi ích nhiều mặt, hàng ngày của mọi tầng lớp nhân dân; góp phần đảm bảo hiệu lực và hiệu quả của chính quyền Nhà nước trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và giải phóng miền Nam, tiến tới thống nhất đất nước.
Nhiệm kỳ của Quốc hội khóa III kéo dài từ tháng 6/1964 đến tháng 6/1971 là do hoàn cảnh có chiến tranh diễn ra trên phạm vi cả nước.
Số liệu cơ bản
Ngày bầu cử: 26/4/1964
Tỷ lệ cử tri bỏ phiếu: 8.580.002 người, đạt 97,77%
Tổng số đại biểu ứng cử: 453
Tổng số đại biểu được bầu: 366
Ðại biểu lưu nhiệm: 87
Thành phần đại biểu Quốc hội
Công nhân: 71
Nông dân: 90
Tiểu thủ công: 7
Cán bộ chính trị: 70
Quân đội: 18
Nhân sỹ, tôn giáo: 12
Cán bộ văn hóa, giáo dục, pháp luật: 37
Cán bộ kinh tế, khoa học kỹ thuật: 61
Ðảng viên: 296
Ngoài Ðảng: 71
Dân tộc: 60
Phụ nữ: 62
Thanh niên: (20-30 tuổi): 71
Phụ lão (trên 60 tuổi): 21
Anh hùng: 22
Cán bộ ở Trung ương: 109
Cán bộ ở địa phương: 257
CÁC KỲ HỌP NỔI BẬT
Quốc hội khóa III kéo dài từ tháng 6/1964 đến tháng 6/1971, với 7 kỳ họp.
Kỳ họp thứ nhất
Từ ngày 27/6 đến 3/7/1964, tại Hà Nội
Kỳ họp thứ 4
Từ ngày 19 đến 22/5/1968
Quốc hội ra Nghị quyết kéo dài nhiệm kỳ Quốc hội khóa III và giao cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định việc tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội khóa IV khi nào tình hình cho phép.
Kỳ họp thứ 5
Ngày 22/9/1969 họp phiên đặc biệt để truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh và bầu ông Tôn Đức Thắng giữ chức Chủ tịch nước
Các luật được Quốc hội thông qua
25/4/1965
Luật sửa đổi và bổ sung Luật Nghĩa vụ quân sự
27/10/1966
Pháp lệnh Quy định cấm nấu rượu trái phép
11/4/1967
Pháp lệnh Quy định một số điểm về bầu cử và tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính các cấp trong thời chiến
15/1/1970
Pháp lệnh Ðặt các danh hiệu vinh dự Nhà nước: Anh hùng lao động và Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân
27/1/1970
Pháp lệnh sửa đổi Ðiều 15 của Pháp lệnh quy định cụ thể về tổ chức của Tòa án nhân dân tối cao và tổ chức của Tòa án nhân dân địa phương ngày 23/3/1961
27/1/1970
Pháp lệnh sửa đổi và bổ sung Pháp lệnh quy định cụ thể về tổ chức của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao ngày 16/4/1962
Các hiệp định, hiệp ước, công ước quốc tế được phê chuẩn
28/1/1965
Nghị quyết phê chuẩn Hiệp định Văn hóa giữa Việt Nam và Cộng hoà Arập thống nhất
21/4/1965
Nghị quyết phê chuẩn Hiệp định Thương mại dài hạn giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Cộng hoà Arập thống nhất
19/8/1970
Nghị quyết phê chuẩn Hiệp định Thương mại và Hiệp định Thanh toán giữa Việt Nam và Cộng hòa Arập Xyri
2/2/1971
Nghị quyết phê chuẩn Hiệp định Thương mại và Thanh toán giữa Việt Nam và Angiêri
BỔ SUNG, SỬA ĐỔI VÀ BAN HÀNH VĂN BẢN PHÁP LUẬT
Trước yêu cầu của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Quốc hội khóa III đã bổ sung, sửa đổi một số văn bản pháp luật quan trọng.
Ngày 10/4/1965, Quốc hội thông qua Nghị quyết giao cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội thực hiện một số quyền hạn của Quốc hội nhằm đáp ứng tình hình thực tiễn.
Các văn bản pháp luật được thông qua trong giai đoạn này không chỉ góp phần củng cố bộ máy nhà nước, bảo vệ quyền lợi của Nhân dân, mà còn tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho công cuộc huy động sức người, sức của chi viện tiền tuyến lớn và giữ vững hậu phương vững mạnh.
THÔNG QUA CÁC KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ-XÃ HỘI THỜI CHIẾN
Quốc hội khóa III đã lần lượt thông qua kế hoạch xây dựng và phát triển kinh tế hai năm 1966-1967 và kế hoạch nhà nước hằng năm từ năm 1966 đến năm 1971, nhằm thực hiện ba yêu cầu chủ yếu là:
1. Động viên cao độ lực lượng về mọi mặt để chiến đấu và chiến thắng, bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam.
2. Giữ vững và phát triển sản xuất phù hợp với hoàn cảnh chiến tranh, nhằm đáp ứng yêu cầu trước mắt, đồng thời chuẩn bị lâu dài cho mai sau.
3. Bảo đảm những nhu cầu thiết yếu của đời sống về ăn, mặc, ở, đi lại, bảo vệ sức khỏe và học hành.
CHỐNG CHIẾN TRANH PHÁ HOẠI MIỀN BẮC LẦN THỨ NHẤT, CHI VIỆN MIỀN NAM ĐÁNH MỸ
Từ đầu năm 1965 với tinh thần "Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược", Quốc hội đã động viên nhân dân miền Bắc ra sức thi đua thực hiện tốt nhất các kế hoạch phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, chi viện tích cực cho miền Nam đánh Mỹ.
ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU QUỐC DÂN MIỀN NAM VÀ SỰ RA ĐỜI CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG
Đại hội đại biểu Quốc dân miền Nam được triệu tập ngày 6/6/1969, gồm đại biểu Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam cùng đại biểu của các lực lượng yêu nước khác ở miền Nam Việt Nam. Đại hội tuyên bố lập chính thể Cộng hòa miền Nam Việt Nam, bầu Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Hội đồng Cố vấn bên cạnh Chính phủ.
THỰC HIỆN DI CHÚC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta bước vào giai đoạn quyết liệt, một tổn thất vô cùng to lớn đối với dân tộc ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời (2/9/1969).
Biến đau thương thành hành động cách mạng, cả dân tộc Việt Nam đứng lên đoàn kết chung quanh Đảng, thực hiện Di chúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quyết tâm hoàn thành sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, đấu tranh thống nhất nước nhà.
Tại Kỳ họp thứ năm, Quốc hội khóa III (22-23/9/1969), Quốc hội đã bầu hai chiến sỹ lão thành cách mạng của Việt Nam là Tôn Đức Thắng và Nguyễn Lương Bằng làm Chủ tịch và Phó Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT GÓP PHẦN TĂNG CƯỜNG KỶ CƯƠNG, KỶ LUẬT
Thông qua việc xem xét các báo cáo của Chính phủ, thảo luận và thông qua những nghị quyết quan trọng về quốc phòng, kinh tế, xã hội, Quốc hội khóa III đã kịp thời điều chỉnh chủ trương, chính sách phù hợp với yêu cầu của thực tiễn.
Hoạt động chất vấn, giám sát việc thi hành pháp luật tuy chưa rộng về quy mô nhưng mang tính trọng tâm, hiệu quả, góp phần tăng cường kỷ cương, kỷ luật trong quản lý nhà nước.
Quốc hội khóa III đã khẳng định vai trò là trung tâm đoàn kết toàn dân, cùng cả nước hướng tới mục tiêu độc lập, thống nhất và phát triển.
KHÔNG NGỪNG MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI
Hoạt động đối ngoại của Quốc hội khóa III không ngừng được mở rộng, góp phần hình thành và phát triển một mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam bao gồm: các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa, mặt trận nhân dân Đông Dương, phong trào giải phóng dân tộc, giai cấp của công nhân các nước tư bản chủ nghĩa, nhân dân tiến bộ Mỹ và tất cả những người yêu chuộng hòa bình trên thế giới.
Hoạt động đối ngoại Quốc hội giai đoạn này có ý nghĩa chiến lược quan trọng, đã phối hợp với các mặt trận quân sự, chính trị tạo thành sức mạnh tổng hợp để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.
Đánh giá về công lao và sự đóng góp của Quốc hội đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Chủ tịch Tôn Đức Thắng nêu rõ Quốc hội khóa III là Quốc hội đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và bảo đảm cho miền Bắc làm tròn nghĩa vụ của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn miền Nam./.