Từ sông Bến Hải đến sông Thạch Hãn, tỉnh Quảng Trị, dòng chảy không chỉ là làn nước tự nhiên mà còn là dòng chảy của lịch sử, của ký ức và của những khát vọng chưa bao giờ dừng lại.
Khát vọng hòa bình và thống nhất non sông đã thành hiện thực, khát vọng tri ân vẫn đang tiếp nối và khát vọng vươn lên đang ở hiện tại và phía trước.
Hai dòng sông, sau tất cả vẫn đang cùng chảy về một hướng - hướng về tương lai. Phóng viên TTXVN thực hiện ba bài viết: “Từ sông Bến Hải đến sông Thạch Hãn: Hai dòng sông - một khát vọng,” góp phần khắc họa những khát vọng cháy bỏng trên dòng Bến Hải và Thạch Hãn lịch sử.
Ký ức khôn nguôi về một thời khói lửa
Hơn nửa thế kỷ trôi qua khi miền Nam hoàn toàn giải phóng 30/4/1975, non sông nối liền một dải, nhưng hai dòng sông Bến Hải và Thạch Hãn, tỉnh Quảng Trị vẫn mang trong mình những lớp trầm tích ký ức chưa bao giờ khép lại. Dưới làn nước hiền hòa ngày nay là những câu chuyện chia cắt, sự hy sinh và những người lính chưa trở về.
"Vết cắt" mang tên Bến Hải
Ít có dòng sông nào mang trên mình số phận đặc biệt như sông Bến Hải. Sau Hiệp định Geneva ký kết ngày 21/7/1954, dòng sông Bến Hải (Vĩ tuyến 17) trở thành giới tuyến quân sự tạm thời, chia cắt đất nước đằng đẵng suốt hơn 20 năm.
Trên dòng sông ấy, cầu Hiền Lương trở thành biểu tượng của sự chia cắt. Một cây cầu, hai màu sơn xanh-vàng. Một dòng sông có đôi bờ chia tách với bờ Bắc là màu xanh, bờ Nam là màu vàng. Những đường ranh chỉ có vài chục mét, nhưng lại là khoảng cách của triệu triệu nỗi đau.
Bà Hoàng Thị Chẩm, nữ du kích nổi tiếng với tên thường gọi là O Chẩm, từng chiến đấu và hiện sinh sống ở bờ Nam sông Bến Hải, vẫn nhớ như in những năm tháng đó.
“Nhiều gia đình có người thân ở bên kia sông, nhìn thấy nhau mà không thể qua; có khi đứng bên này gọi, bên kia chỉ biết khóc…,” bà Chẩm kể.
Không chỉ chia cắt địa lý, Bến Hải còn chia cắt cả tình thân, ký ức và tuổi trẻ của bao thế hệ. Quãng thời gian 21 năm chia cắt, người thân chỉ sống cách nhau một dòng sông mà phải xa cách nên không khỏi nhớ nhung và luôn khát khao đất nước liền một dải để được đoàn tụ: “Bên ven bờ Hiền Lương/Chiều nay ra đứng trông về/Mắt đượm tình quê, đôi mắt đượm tình quê …” (Câu hò bên bờ Hiền Lương - Hoàng Hiệp).
Chiến đấu ở bờ Nam sông Bến Hải, ông Trần Xuân Tiếp, xã Cửa Việt chia sẻ, trong suốt những năm tháng đất nước bị chia cắt 1954-1975, hàng vạn gia đình đã bị ly tán bởi giới tuyến - sông Bến Hải.
Nhiều người ra đi không hẹn ngày trở lại. Nhiều cuộc đoàn tụ chỉ đến sau ngày đất nước thống nhất 30/4/1975, khi tóc đã bạc, ký ức đã in sâu thành nếp.
Suốt những năm tháng đất nước bị chia cắt, bờ Nam cầu Hiền Lương-sông Bến Hải được xem là “vành đai trắng,” bởi Mỹ-Ngụy ngày đêm dùng bom đạn hòng hủy diệt mọi sự sống. Song, “Gươm nào chém được dòng Bến Hải ?/Lửa nào thiêu được dải Trường Sơn ?" (Ba mươi năm đời ta có Đảng - Tố Hữu).
Với quyết tâm: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một,” người dân Quảng Trị dù ở bờ Bắc hay bờ Nam sông Bến Hải, dù phải chịu đựng biết bao hy sinh, gian khổ nhưng họ không hề nao núng, một lòng một dạ sắt son chiến đấu để miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước được thống nhất.
Bởi vậy, trong 21 năm giới tuyến tồn tại, bờ Bắc cầu Hiền Lương-sông Bến Hải được nhân dân cả nước và bạn bè quốc tế mến phục ngợi khen là “Tiền đồn miền Bắc xã hội chủ nghĩa,” “Tuyến lửa anh hùng,” “Vĩnh Linh lũy thép.”.. Lá cờ Tổ quốc treo trên Cột cờ Giới tuyến ở bờ Bắc cầu Hiền Lương-sông Bến Hải, ngày đêm kiêu hãnh tung bay dù có mưa bom bão đạn hay bão táp mưa sa; là biểu tượng của niềm tin, ý chí và sức mạnh thống nhất non sông của dân tộc Việt Nam.
“Đáy sông còn đó bạn tôi nằm…”
Nếu Bến Hải là biểu tượng của chia cắt thì sông Thạch Hãn là biểu tượng của hy sinh. Mùa Hè năm 1972, trong cuộc chiến đấu 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ Quảng Trị (28/6-16/9/1972), dòng sông này trở thành tuyến lửa ác liệt.
Để tiếp viện cho Thành cổ, hàng nghìn chiến sỹ đã vượt qua Thạch Hãn trong mưa bom bão đạn. Nhiều người trong số họ còn chưa kịp đặt chân tới bờ bên kia.
Ông Nguyễn Hữu Ý, xã Ái Tử, tỉnh Quảng Trị đã trên 90 tuổi nhưng vẫn còn minh mẫn. Trong cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972, ông được giao nhiệm vụ trinh sát.
Ông nhớ lại, chúng tôi vượt sông vào ban đêm, đạn pháo sáng rực cả bầu trời. Có người vừa xuống nước đã trúng đạn. Có người bị dòng nước lớn cuốn đi… không ai kịp gọi tên nhau.
Thành cổ Quảng Trị đã ghi vào lịch sử cách mạng Việt Nam chiến tích hào hùng đầy máu lửa, là bản hùng ca về tinh thần quả cảm, xả thân vì sự nghiệp giải phóng dân tộc của quân dân Quảng Trị và cả nước.
Trong 81 ngày đêm chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị, hàng nghìn chiến sỹ đã hy sinh, nhiều người đã mãi nằm lại trong lòng sông Thạch Hãn.
Dòng sông ấy đã chứng kiến những chiến công oanh liệt, nhưng cũng khắc ghi hình ảnh những người con ưu tú của dân tộc trước khi vượt sông, đã chuẩn bị cho buổi lễ truy điệu chính mình, hay những chuyến đò ngang đưa bộ đội sang sông và đón các anh trở về trong vòng tay yêu thương đất mẹ Quảng Trị anh hùng.
Mùa Hè “đỏ lửa” năm 1972, nữ du kích Nguyễn Thị Thu, xã Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị khi ấy mới 18 tuổi, đã thầm lặng ngày đêm cùng bố chồng vượt qua bom đạn, vững tay chèo chở lương thực, vũ khí và bộ đội vào Thành cổ Quảng Trị chiến đấu.
Bà Thu kể, các chuyến đò thường được thực hiện trong đêm để tránh sự phát hiện của địch. Cứ thế, chiếc đò của hai bố con bà Thu lặng lẽ vượt sông Thạch Hãn với hàng chục chuyến mỗi đêm đưa bộ đội, vũ khí, lương thực vào Thành cổ Quảng Trị, rồi lại chở thương binh vượt sông trở về tuyến sau.
“Ngày ấy, chiến sự ác liệt, đất nước lâm nguy, ai cũng sẵn sàng ra trận. Hàng ngàn thanh niên mười tám đôi mươi, những sinh viên trẻ tạm xa ghế nhà trường trên mọi miền Tổ quốc hăng hái lên đường vào vùng “đất lửa” Quảng Trị để chiến đấu và sẵn sàng hy sinh cho Tổ quốc. Những tấm gương ấy đã tiếp thêm sức mạnh để tôi nắm chắc mái chèo, hỗ trợ đưa các anh sang sông, tiến vào chiến trường,” bà Thu tâm sự.
Suốt 81 ngày đêm khốc liệt nhưng kiên cường ấy, đã bao lần cả hai bố con phải đối mặt với cái chết nhưng vẫn chắc tay chèo, đồng hành cùng các chiến sỹ cập bến an toàn.
Không phải chuyến đò nào đưa người sang sông cũng có ngày trở lại. “Các anh ra đi còn nguyên vẹn, nhưng nhiều lần khi trở về lại chỉ là thân thể đầy thương tích, thậm chí có người nằm lại vĩnh viễn ở Thành cổ Quảng Trị,” bà Thu nghẹn ngào.
Sông Thạch Hãn như là nghĩa trang không bia mộ - nơi ghi dấu sự hy sinh thầm lặng nhưng vô cùng lớn lao của bao chiến sỹ, trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt.
Đứng bên bờ sông, khó ai có thể kìm được nghẹn ngào khi nghe kể về ký ức của một thời hoa lửa hào hùng. Đến hôm nay, vẫn còn không ít gia đình chưa tìm được hài cốt người thân.
Dòng Thạch Hãn vẫn miệt mài chảy qua năm tháng, nhưng dưới đáy sông là những câu chuyện đau đáu chưa bao giờ khép lại.
Những ngày cuối tháng Tư lịch sử, khi bình minh vừa ló rạng, hay lúc Mặt trời dần khuất sau những hàng cây ven sông, từng dòng người lại lặng lẽ tìm về đôi bờ Thạch Hãn. Thành kính thắp nén tâm nhang, thả xuống dòng nước những nhành hoa tươi hay những chiếc đèn hoa đăng, mỗi người đều gửi gắm lời tri ân sâu nặng và nỗi niềm tưởng nhớ khôn nguôi.
Những đóa hoa trôi lặng lẽ, ánh nến nhỏ trong đèn hoa đăng chập chờn trước gió rồi trôi theo dòng nước, mang theo những lời chưa kịp nói thành câu, những yêu thương còn dang dở.
Không ai lên tiếng, nhưng trong ánh mắt mỗi người đều chung một nỗi nghẹn ngào, bởi dưới làn nước kia vẫn còn những người lính mãi mãi chưa trở về.
“Đáy sông còn đó bạn tôi nằm…,” ông Phạm Hồng Cam, đến từ tỉnh Thanh Hóa, từng tham gia chiến đấu tại Thành cổ Quảng Trị, rưng rưng mượn câu thơ của Lê Bá Dương. Chỉ đọc lại một câu thơ ấy, rồi giọng ông Cam trầm xuống như chính dòng Thạch Hãn đang lững lờ trôi. Hơn nửa thế kỷ trôi qua, ký ức về những ngày tháng khốc liệt vẫn chưa bao giờ nguôi ngoai./.
Bài 2: Giữ “mạch nguồn” khát vọng hòa bình
Mạch nguồn Thạch Hãn - hồn thiêng sông nước
Mùa Hè đỏ lửa năm 1972, Thạch Hãn đã hòa mình vào khúc tráng ca bi hùng nơi Thành cổ Quảng Trị, trở thành chứng nhân lịch sử cho 81 ngày đêm anh dũng chiến đấu của dân tộc.