Du lịch Việt Nam đang đứng trước cơ hội đồng thời cũng là thách thức: thị trường đã mở rộng, lượng khách tăng trở lại. Nhưng, để giữ họ ở lâu hơn, tăng mức chi tiêu và tạo thêm giá trị cho nền kinh tế, những sản phẩm quen thuộc và cách làm cũ khó đáp ứng được yêu cầu.
Trong khi đó, các lĩnh vực có khả năng kéo dài thời gian lưu trú và tăng mức chi tiêu như hội nghị, triển lãm, văn hóa, nghệ thuật, thể thao, giải trí, chăm sóc sức khỏe hay du lịch đêm vẫn chưa có cơ chế đầu tư đủ hấp dẫn. Doanh nghiệp cũng chưa mạnh dạn dành nguồn lực cho đào tạo, ngoại ngữ, kỹ năng số, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường quốc tế.
Từ thực tế này, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đang dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới. Dự thảo đề xuất 4 nhóm cơ chế, tập trung vào dự án du lịch động lực, đào tạo và phát triển thương hiệu, mô hình kinh doanh mới và hạ tầng dịch vụ du lịch.
Ưu đãi phải đi cùng sản phẩm và việc làm
Thực tiễn phát triển của ngành du lịch Việt thời gian qua cho thấy chính sách ưu đãi đầu tư, thuế chưa thật sự phù hợp với những dự án có vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn dài nhưng tạo tác động đến nhiều ngành khác. Trong khi đó, việc nâng cấp cơ sở hiện có chưa có đủ động lực, còn đầu tư mở rộng quy mô lưu trú vẫn phổ biến.
Dự thảo đề xuất dành cơ chế ưu đãi cho các dự án được xác định là dự án du lịch động lực với điều kiện đặt ra khá cụ thể.
Dự án phải đầu tư tại địa bàn thuộc diện quy định, có đầy đủ hồ sơ pháp lý và hình thành tổ hợp du lịch - văn hóa, thể thao, giải trí, mua sắm; tổ hợp kinh tế đêm hoặc hạ tầng du lịch quy mô lớn.
Quan trọng hơn, dự án phải tạo sản phẩm mới hoặc nâng cấp sản phẩm hiện có, làm tăng ít nhất 20% năng lực cung ứng sản phẩm chính so với bình quân năm liền trước. Chỉ tiêu này được tính theo thiết kế, công suất, số suất phục vụ hoặc loại sản phẩm. Các trường hợp sửa chữa thường xuyên hoặc chỉ tăng giá bán không được tính.
Dự án đầu tư mới phải tạo ít nhất 300 việc làm trực tiếp thường xuyên. Với dự án mở rộng, số việc làm tăng thêm phải đạt ít nhất 100 người so với bình quân năm liền trước và hoàn thành chậm nhất vào cuối năm hoạt động thứ ba.
Doanh nghiệp cũng phải có phương án đào tạo nhân lực, tiết kiệm tài nguyên, giảm chất thải, bảo vệ môi trường, thực hiện quyền sở hữu trí tuệ, nghĩa vụ bảo tồn và quyền tiếp cận hợp pháp của cộng đồng.
Từ năm hoạt động thứ ba, doanh thu từ sản phẩm mới phải chiếm ít nhất 30% tổng doanh thu của phần dự án đề nghị hưởng ưu đãi và được hạch toán riêng.
Casino, trò chơi điện tử có thưởng, đặt cược và sân golf không thuộc diện áp dụng chính sách này.
Nếu đáp ứng các điều kiện, doanh nghiệp được áp dụng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 10% trong 10 năm đối với phần thu nhập đủ điều kiện; đồng thời giảm 50% số thuế phải nộp khác ngoài thuế thu nhập doanh nghiệp trong 5 năm đầu.
Thuế suất ưu đãi được tính từ năm đầu tiên dự án có doanh thu. Thời gian miễn, giảm thuế tính từ năm đầu có thu nhập chịu thuế. Trường hợp 3 năm đầu đã có doanh thu nhưng chưa phát sinh thu nhập chịu thuế, thời gian ưu đãi được tính từ năm thứ tư.
Với dự án đang hoạt động, chính sách chỉ áp dụng cho phần thu nhập từ hoạt động mở rộng được xác nhận. Doanh nghiệp phải hạch toán riêng phần thu nhập này; nếu không thể hạch toán riêng, thu nhập được xác định theo tỷ lệ nguyên giá tài sản cố định tăng thêm trên tổng nguyên giá tài sản cố định của hoạt động tương ứng.
Dự thảo không đặt điều kiện hưởng ưu đãi theo danh mục ngành, nghề đặc biệt ưu đãi đầu tư hoặc ngưỡng vốn ưu đãi đầu tư đặc biệt. Chính sách cũng có thể áp dụng với phần mở rộng của dự án đã được chấp thuận trước ngày 1/3/2026, nếu khoản đầu tư chưa đưa vào kinh doanh trước thời điểm Nghị quyết có hiệu lực.
Doanh nghiệp được lựa chọn cơ chế ưu đãi đối với cùng một khoản thu nhập nhưng không được tính lại thời gian đã hưởng ưu đãi và không được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu.
Doanh nghiệp tự xác định, kê khai trên cơ sở quyết định xác nhận và chịu trách nhiệm về hồ sơ, số liệu, điều kiện thực tế. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xác nhận dự án sau khi có thẩm định của các cơ quan chuyên môn. Với dự án triển khai tại nhiều tỉnh, thành phố, việc xác nhận được thực hiện riêng cho từng phần để tránh tính trùng chỉ tiêu.
Đầu tư vào con người, thương hiệu và thị trường
Một khoảng trống khác được dự thảo nhắc tới là năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp du lịch. Nhiều doanh nghiệp còn khó đầu tư cho ngoại ngữ, kỹ năng số, đào tạo lại lao động, xây dựng thương hiệu và tìm kiếm khách quốc tế. Những khoản chi này cần tiền ngay nhưng hiệu quả thường đến sau một thời gian dài.
Dự thảo đề xuất doanh nghiệp Việt Nam kinh doanh du lịch, khi mở mới cơ sở đào tạo có quy mô tối thiểu 500 học viên mỗi năm, được tính vào chi phí được trừ 150% khoản chi đào tạo thực tế đủ điều kiện trong 5 năm đầu.
Phần tăng thêm 50% không phải khoản ngân sách cấp hoặc hoàn trả bằng tiền.
Các khoản chi được tính tăng thêm gồm đào tạo, đào tạo lại lao động du lịch; đăng ký, bảo hộ nhãn hiệu, tên thương mại, quyền sở hữu trí tuệ theo pháp luật nước tiếp nhận, gắn với sản phẩm, dịch vụ cung cấp tại Việt Nam; bảo vệ quyền hợp pháp ở nước ngoài; nghiên cứu thị trường, giới thiệu sản phẩm, tham gia hội chợ, xúc tiến trực tiếp và tiếp thị quốc tế nhằm đưa khách đến Việt Nam.
Những khoản chi này phải có kế hoạch, đối tượng, sản phẩm đầu ra, hợp đồng và chứng từ thực hiện.
Dự thảo đồng thời đề cập nhóm khách nghỉ dưỡng dài ngày và người làm việc từ xa, những đối tượng đang phát triển nhưng chưa có cơ chế phù hợp về cư trú, lao động, thuế và cung ứng dịch vụ.
Ở khu vực cộng đồng, hợp tác xã, hộ kinh doanh, việc tham gia cung cấp trải nghiệm tại làng nghề, vùng nông nghiệp và điểm đến văn hóa vẫn còn hạn chế. Trách nhiệm về an toàn, bảo hiểm, hoàn tiền và trách nhiệm của các nền tảng cung cấp dịch vụ cũng chưa được quy định đầy đủ.
Việc hoàn thiện các quy định này sẽ tạo cơ sở để những mô hình du lịch mới có thể hoạt động rõ ràng hơn, đồng thời xác định trách nhiệm của doanh nghiệp, cộng đồng và nền tảng cung cấp dịch vụ.
Các cơ chế trong dự thảo được xây dựng để phục vụ mục tiêu đến năm 2030 phát triển mạnh 3 cực tăng trưởng Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng; hình thành 10 trung tâm du lịch trọng điểm, 20 khu du lịch quốc gia; có 15 tập đoàn, tổng công ty sở hữu thương hiệu mạnh, sức cạnh tranh quốc tế; bảo đảm khoảng 1,5 triệu buồng lưu trú, 2,3 triệu việc làm trực tiếp và 3,5 triệu việc làm gián tiếp.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cho rằng việc xây dựng Nghị quyết nhằm thể chế hóa Nghị quyết số 26-NQ/TW, đồng thời tháo gỡ những điểm nghẽn pháp luật và tạo cơ sở để các chính sách mới có thể triển khai, kiểm tra và đánh giá.
Với du lịch, bài toán lúc này không đơn giản là xây thêm bao nhiêu phòng hay đón thêm bao nhiêu lượt khách, mà một dự án được ưu đãi cần phải tạo ra sản phẩm mới, thêm việc làm; doanh nghiệp muốn được khuyến khích phải đầu tư cho người lao động, thương hiệu và thị trường. Những quy định này sẽ quyết định nguồn lực xã hội đi vào đâu và du lịch Việt Nam có thể tạo thêm giá trị bằng cách nào./.