“Pháp luật không chỉ là công cụ quản lý nhà nước mà còn thực sự mở đường, khơi thông nguồn lực và tạo động lực phát triển,” đó là chia sẻ của Phó Giáo sư, Tiến sỹ Lê Trung Thành, đại biểu Quốc hội khóa XVI (An Giang), Ủy viên chuyên trách Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội với phóng viên TTXVN về yêu cầu đổi mới tư duy lập pháp và trách nhiệm của người đại biểu Quốc hội nhân kỷ niệm 80 năm Ngày Quốc hội Việt Nam thông qua bản Hiến pháp đầu tiên (1946-2026).
- Đất nước đang hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày Quốc hội Việt Nam thông qua bản Hiến pháp đầu tiên (1946-2026), ông có thể chia sẻ cảm xúc và đánh giá của mình về giá trị cốt lõi, tinh thần dân chủ và thượng tôn pháp luật của Hiến pháp 1946? Theo ông, tinh thần đó đang được soi chiếu như thế nào vào các quyết sách lập pháp của Quốc hội khóa XVI tại kỳ họp này?
Ông Lê Trung Thành: Nhân dịp kỷ niệm 80 năm Quốc hội thông qua bản Hiến pháp đầu tiên, tôi cảm thấy rất xúc động, tự hào và càng nhận thức sâu sắc hơn về trách nhiệm của một đại biểu Quốc hội ngày nay.
Hiến pháp năm 1946 ra đời trong hoàn cảnh đất nước vừa giành được độc lập, phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, thử thách. Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quốc hội khóa I đã xây dựng và thông qua một bản Hiến pháp mang tư tưởng dân chủ, tiến bộ, thể hiện khát vọng độc lập, tự do và quyền làm chủ của nhân dân.
Theo tôi, giá trị cốt lõi của Hiến pháp 1946 được thể hiện ở ba nội dung lớn. Thứ nhất, Hiến pháp đã khẳng định chủ quyền quốc gia và quyền làm chủ của Nhân dân.
Hiến pháp xác lập nguyên tắc tất cả quyền bính trong nước thuộc về toàn thể Nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo. Đây là nền tảng tư tưởng quan trọng cho việc xây dựng Nhà nước của Nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Thứ hai, đề cao quyền tự do, dân chủ và bình đẳng trước pháp luật. Ngay từ năm 1946, Hiến pháp đã ghi nhận những quyền cơ bản của công dân, trong đó có quyền bình đẳng, quyền tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, quyền tham gia quản lý đất nước và quyền bình đẳng giữa nam và nữ. Những quy định đó thể hiện tư tưởng tiến bộ, có giá trị vượt thời đại.
Thứ ba, đặt nền móng cho một Nhà nước quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật. Hiến pháp xác định tổ chức, thẩm quyền và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, qua đó khẳng định quyền lực nhà nước phải được tổ chức và thực hiện theo những nguyên tắc pháp lý rõ ràng, hướng tới phục vụ lợi ích của quốc gia và Nhân dân.
Tôi cho rằng giá trị lớn nhất của Hiến pháp 1946 không chỉ nằm ở những quy định cụ thể, mà còn ở tư tưởng xuyên suốt là lấy nhân dân làm trung tâm, lấy dân chủ làm nền tảng và lấy Hiến pháp, pháp luật làm cơ sở tổ chức, thực hiện quyền lực nhà nước. Tinh thần đó tiếp tục được kế thừa, phát triển trong các bản Hiến pháp sau này, đồng thời được thể hiện rõ trong hoạt động lập pháp của Quốc hội khóa XVI.
Ngay tại Kỳ họp thứ 2 này, Quốc hội đang xem xét khối lượng lớn các dự án luật, nghị quyết liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích của người dân, hoạt động của doanh nghiệp và sự phát triển của đất nước. Chúng ta thấy rằng mọi chính sách, quy định pháp luật đang xây dựng đều xuất phát từ lợi ích chính đáng của nhân dân, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, công bằng và bình đẳng trước pháp luật.
Pháp luật ngày càng thực sự trở thành động lực phát triển, tháo gỡ những điểm nghẽn về thể chế, khơi thông nguồn lực, thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển kinh tế-xã hội; đồng thời bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người dân và doanh nghiệp.
Chất lượng công tác lập pháp ngày càng được nâng cao và thể hiện tính hiệu quả trong thực thi pháp luật, bảo đảm tính hợp hiến, thống nhất, minh bạch và khả thi; xác định rõ trách nhiệm, thẩm quyền của các cơ quan nhà nước, tăng cường kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình.
Với tư cách là đại biểu Quốc hội khóa XVI, tôi nhận thức rằng kế thừa tinh thần Hiến pháp 1946 không chỉ là sự trân trọng một di sản lịch sử, mà còn cần đóng góp thiết thực việc chuyển hóa những giá trị cốt lõi của Hiến pháp 1946 thành các quyết sách lập pháp cụ thể, thiết thực, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
- Nhìn lại chặng đường 80 năm phát triển, Quốc hội luôn không ngừng tự đổi mới để đáp ứng yêu cầu của đất nước. Theo ông, tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI này, tư duy lập pháp cần phải chuyển dịch ra sao để vừa đảm bảo hành lang pháp lý vững chắc, vừa tạo được sự linh hoạt, kiến tạo không gian phát triển mới cho nền kinh tế-xã hội?
Ông Lê Trung Thành: Nhìn lại chặng đường 80 năm hình thành và phát triển, có thể khẳng định Quốc hội Việt Nam luôn kế thừa những giá trị nền tảng của Hiến pháp 1946, đồng thời không ngừng đổi mới để đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong từng giai đoạn lịch sử.
Trong bối cảnh hiện nay, khi đất nước đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính, tôi cho rằng đổi mới tư duy lập pháp là yêu cầu cấp thiết, trong đó phải chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển, để pháp luật không chỉ là công cụ quản lý nhà nước mà còn thực sự mở đường, khơi thông nguồn lực và tạo động lực phát triển.
Theo tôi, sự chuyển dịch này cần tập trung vào bốn nội dung.
Thứ nhất, chuyển từ tư duy quản lý, kiểm soát sang kiến tạo và thúc đẩy phát triển. Pháp luật không chỉ quy định những gì được làm, không được làm mà còn phải tạo hành lang pháp lý thuận lợi, minh bạch để người dân, doanh nghiệp chủ động đầu tư, sản xuất, kinh doanh và đổi mới sáng tạo. Cần tiếp tục rà soát, loại bỏ những quy định chồng chéo, mâu thuẫn, những điều kiện kinh doanh và thủ tục hành chính không cần thiết, giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho xã hội.
Thứ hai, chuyển từ quản lý nặng về tiền kiểm sang hậu kiểm trên cơ sở phân loại rủi ro và cơ sở dữ liệu. Nhà nước cần tập trung kiểm soát chặt chẽ các hoạt động có nguy cơ cao ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh, môi trường, sức khỏe và quyền lợi của người dân; đồng thời tạo điều kiện thuận lợi hơn cho những hoạt động có rủi ro thấp, nhất là trong sản xuất, kinh doanh và đổi mới sáng tạo.
Thứ ba, đổi mới phương thức xây dựng pháp luật theo hướng ổn định về nguyên tắc nhưng linh hoạt trong tổ chức thực hiện. Luật cần quy định rõ những vấn đề mang tính nguyên tắc, quyền và nghĩa vụ cơ bản của người dân, doanh nghiệp, thẩm quyền và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước. Đồng thời, thực hiện phân cấp, phân quyền hợp lý, bảo đảm khả năng điều chỉnh kịp thời trước những thay đổi nhanh chóng của thực tiễn.
Đặc biệt, đối với những lĩnh vực mới như trí tuệ nhân tạo, kinh tế số, công nghệ mới, chuyển đổi xanh, cần có cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, cho phép chấp nhận rủi ro hợp lý để khuyến khích sáng tạo, nhưng vẫn bảo vệ lợi ích công cộng và quyền lợi hợp pháp của người dân.
Thứ tư, chuyển từ chú trọng số lượng văn bản sang coi trọng chất lượng và hiệu quả thực thi pháp luật. Chất lượng lập pháp không chỉ được đánh giá bằng số lượng luật được ban hành mà quan trọng hơn là những điểm nghẽn nào được tháo gỡ, bao nhiêu thời gian và chi phí được tiết kiệm cho người dân, doanh nghiệp, những nguồn lực nào được khơi thông và pháp luật đã đóng góp như thế nào vào phát triển kinh tế-xã hội.
Tinh thần đổi mới này đang được thể hiện rất rõ nét trong hoạt động lập pháp tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, thông qua việc xem xét nhiều dự án luật quan trọng về đầu tư, đất đai, ngân sách, khoa học, công nghệ, bưu chính, đo lường, bảo vệ môi trường và các lĩnh vực khác.
Chẳng hạn, đối với lĩnh vực đo lường và bảo vệ môi trường, vấn đề đặt ra là đổi mới phương thức quản lý, phân loại đối tượng theo mức độ rủi ro, giảm thủ tục không cần thiết nhưng vẫn bảo đảm yêu cầu quản lý nhà nước. Trong lĩnh vực đầu tư, cần tiếp tục tháo gỡ những vướng mắc về trình tự, thủ tục, phân cấp và sử dụng hiệu quả các nguồn lực phát triển.
Tuy nhiên, tôi cho rằng đổi mới, linh hoạt phải luôn đi đôi với kỷ cương pháp luật; phân cấp, phân quyền phải gắn với kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình; kiến tạo phát triển phải đồng thời bảo đảm công bằng xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân. Đó cũng chính là sự tiếp nối tinh thần dân chủ và thượng tôn pháp luật của Hiến pháp 1946 trong điều kiện và tình hình phát triển mới của đất nước.
- Kỷ niệm 80 năm Quốc hội Việt Nam cũng là dịp để mỗi đại biểu nhân dân tự soi rọi lại trách nhiệm của mình. Đại biểu tâm đắc nhất điều gì trong việc giữ mối liên hệ gắn bó mật thiết giữa đại biểu Quốc hội với cử tri, để đưa những quyết sách "đúng và trúng" của Quốc hội nhanh chóng đi vào cuộc sống?
Ông Lê Trung Thành: Kỷ niệm 80 năm Quốc hội Việt Nam là dịp rất ý nghĩa để mỗi đại biểu Quốc hội nhìn lại truyền thống vẻ vang của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, đồng thời tự soi rọi trách nhiệm của mình trước nhân dân và đất nước.
Từ Quốc hội khóa I năm 1946 đến nay, một giá trị xuyên suốt, không thay đổi là Quốc hội đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân. Vì vậy, theo tôi, điều quan trọng nhất đối với mỗi đại biểu Quốc hội chính là giữ được sự gắn bó mật thiết với cử tri, thực sự lắng nghe, thấu hiểu và có trách nhiệm đến cùng với những vấn đề mà cử tri quan tâm.
Tôi đặc biệt tâm đắc với ba nội dung. Thứ nhất, lắng nghe cử tri không chỉ để ghi nhận ý kiến, kiến nghị mà quan trọng hơn là phải nhận diện được những vấn đề thực tiễn đang đặt ra. Mỗi ý kiến của cử tri, dù là một khó khăn cụ thể trong đời sống hay một kiến nghị về cơ chế, chính sách, đều có thể phản ánh những bất cập cần được xem xét, giải quyết.
Vì vậy, đại biểu Quốc hội cần chủ động tiếp xúc, đối thoại, lắng nghe người dân, doanh nghiệp, các chuyên gia và những đối tượng chịu tác động trực tiếp của chính sách. Đồng thời, phải có khả năng phân tích, tổng hợp để từ những vấn đề cụ thể của thực tiễn nhận diện được những vấn đề mang tính chính sách, pháp luật.
Thứ hai, phải chuyển được tiếng nói và nguyện vọng chính đáng của cử tri thành những quyết sách lập pháp và hoạt động giám sát cụ thể. Theo tôi, trách nhiệm của đại biểu không dừng lại ở việc chuyển tải kiến nghị đến các cơ quan có thẩm quyền, mà còn phải chủ động nghiên cứu, đề xuất giải pháp, tham gia xây dựng và hoàn thiện chính sách, pháp luật.
Đặc biệt, trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, đại biểu Quốc hội cần có tư duy đổi mới, kiến thức chuyên môn và bản lĩnh để tham gia quyết định những vấn đề quan trọng, vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt, vừa tạo nền tảng cho phát triển lâu dài.
Thứ ba, phải theo dõi, giám sát đến cùng việc thực hiện các quyết sách của Quốc hội. Một đạo luật hay một nghị quyết, dù được xây dựng tốt đến đâu, cũng chỉ thực sự có giá trị khi được tổ chức thực hiện hiệu quả và mang lại lợi ích thiết thực cho người dân
Vì vậy, tôi cho rằng hoạt động của đại biểu Quốc hội cần quan tâm nhiều hơn đến kết quả thực thi chính sách, pháp luật; kịp thời phát hiện những khó khăn, vướng mắc, bất cập để kiến nghị tháo gỡ. Chẳng hạn, đối với cải cách thủ tục hành chính và chuyển đổi số, hiệu quả không chỉ được đánh giá bằng số lượng dịch vụ công trực tuyến, mà quan trọng hơn là người dân, doanh nghiệp thực sự tiết kiệm được bao nhiêu thời gian, chi phí, giảm được bao nhiêu giấy tờ và có thuận lợi hơn khi giải quyết công việc hay không.
Từ thực tiễn hoạt động của mình, tôi nhận thức sâu sắc rằng niềm tin và sự kỳ vọng của cử tri vừa là động lực, vừa là trách nhiệm lớn lao đối với mỗi đại biểu Quốc hội. Điều đó đòi hỏi đại biểu phải không ngừng học hỏi, nâng cao trình độ, giữ vững bản lĩnh, tinh thần khách quan, trách nhiệm và đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc và nhân dân lên trên hết.
Tôi cho rằng, cách thiết thực nhất để mỗi đại biểu Quốc hội đóng góp vào truyền thống 80 năm của Quốc hội Việt Nam chính là thực hiện tốt trách nhiệm đại diện cho Nhân dân, để mỗi ý kiến phát biểu, mỗi lá phiếu và mỗi hoạt động giám sát đều hướng tới giải quyết những vấn đề thực tiễn, đáp ứng nguyện vọng chính đáng của cử tri.
- Trân trọng cảm ơn ông đã tham gia trả lời phỏng vấn./.