Thách thức đối với hệ sinh thái vùng bờ biển

Những thách thức đối với các hệ sinh thái vùng bờ biển

Nước biển dâng sẽ ảnh hưởng đến vùng đất ngập nước ven biển, nghiêm trọng nhất ở Cà Mau, TP.HCM, Bà Rịa-Vũng Tàu và Nam Định.
Rừng ngập mặn ở Cà Mau. (Ảnh: Thanh Hà/TTXVN)

Tiềm năng tài nguyên vùng bờ biển có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của đất nước. Tuy nhiên, nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội cùng với việc quản lý chồng chéo kém hiệu quả, cộng với những thay đổi dưới tác động của biến đổi khí hậu khiến các hệ sinh thái vùng bờ đã và đang suy thoái, diện tích bị thu hẹp nghiêm trọng.


Tác động của biến đổi khí hậu

Với hơn 3.260km đường bờ biển và hai đồng bằng châu thổ lớn, Việt Nam là một trong những quốc gia bị tác động mạnh của biến đổi khí hậu. Theo dự báo của Ngân hàng Thế gới, nếu mực nước biển dâng thêm 1m thì đời sống của 10,8% dân số Việt Nam sống tập trung tại các vùng châu thổ sẽ bị ảnh hưởng. Nếu mực nước dâng 5m thì khoảng 16% diện tích đất ven bờ và các hệ sinh thái ở đây bị ngập lụt, khoảng 35% dân số và 35% tổng sản phẩm quốc dân bị đe dọa.

Theo báo cáo của Cơ quan quốc tế về biến đổi khí hậu, biến đổi và biến thiên khí hậu gây ảnh hưởng đến thủy sản, nghề cá và cộng đồng ngư dân. Nhiệt độ tăng, mực nước biển dâng và thay đổi lượng mưa làm cho hệ sinh thái, sản lượng đánh bắt cá, cơ sở hạ tầng và sinh kế nghề cá dễ bị tổn thương. Tại Việt Nam, mối quan ngại nổi lên là các dị thường lượng mưa và tăng nhiệt độ do sự ấm lên toàn cầu, đặc biệt là bão và lũ lụt sau mỗi chu kỳ 3-4 năm, tác động của chúng tới các hệ sinh thái (rừng ngập mặn, dải ven bờ, châu thổ), các loài cá phổ biến, nghề cá và sinh kế.

Nước biển dâng sẽ ảnh hưởng đến vùng đất ngập nước ven biển Việt Nam, nghiêm trọng nhất là khu vực rừng ngập mặn ở Cà Mau, Thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa-Vũng Tàu và Nam Định. Đa dạng sinh học vùng bờ và nguồn lợi thủy hải sản giảm sút. Các hệ sinh thái vùng bờ quan trọng bị suy thoái và thu hẹp diện tích. Các quần đàn có xu hướng di chuyển ra xa bờ hơn do thay đổi cấu trúc hoàn lưu ven biển, thay đổi tương tác sông-biển ở vùng cửa sông ven bờ do mất đến 60% các nơi cư trú tự nhiên quan trọng.

Hệ quả của khai thác nguồn lợi quá mức

Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế nhận xét trong 50 năm lại đây, Việt Nam đã bị mất khoảng 80% diện tích rừng ngập mặn. Phong trào nuôi tôm, các dự án phát triển khu công nghiệp và đô thị là một trong những nguyên nhân nổi trội dẫn đến phá rừng ngập mặn. Vùng ven biển Đồng bằng sông Cửu Long, tỉnh Quảng Ninh, thành phố Hải Phòng là những nơi có diện tích rừng ngập mặn bị mất nhiều nhất.

Theo số liệu của Viện Điều tra quy hoạch rừng, sau 60 năm (1943-2003), rừng ngập mặn của Việt Nam đã mất gần 4/5 diện tích. Diện tích rừng ngập mặn bị mất do các hoạt động sản xuất trong giai đoạn 1985-2000 ước khoảng 15.000ha/năm. Do suy thoái nên năng suất nuôi tôm quảng canh trong rừng ngập mặn giảm sút nghiêm trọng, từ 200kg/ha/vụ năm 1980 đến nay chỉ còn 80kg/ha/vụ; 1ha rừng ngập mặn trước kia có thể khai thác được 800kg thủy sản, nhưng hiện chỉ thu được 1/20 so với trước.

Cùng với đó, bức tranh về rạn san hô biển Việt Nam cũng rất ảm đạm. Trong số khoảng 200 điểm rạn san hô được khảo sát, hiện trạng độ phủ của chúng đang giảm sút nhanh chóng. Từ năm 2002, Viện Tài nguyên Thế giới đã cảnh báo khoảng 80% rạn san hô ở vùng biển Việt Nam nằm trong tình trạng rủi ro, trong đó 50% ở mức cao. Nếu không có hành động tích cực và hiệu quả thì chỉ đến hết năm 2030, biển Việt Nam sẽ trở thành “thủy mạc,” không còn rạn san hô và cũng không còn tôm cá nữa.

Tình trạng trên cũng diễn ra tương tự với các hệ sinh thái thảm cỏ biển. Trước thời kỳ 1996-1997, diện tích của 39 bãi cỏ biển là 10.768ha, đến năm 2003 chỉ còn gần 4.000ha, nghĩa là đã mất đến 60%. Diện tích các hệ sinh thái đất ngập nước ven biển nói chung cũng bị mất khoảng 60-70% để nhường chỗ cho các hoạt động của con người. Khoảng 100 loài hải sản có mức độ nguy cấp khác nhau, trên 100 loài được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam. Nguồn lợi hải sản có xu hướng giảm về trữ lượng, sản lượng và kích thước đánh bắt.


Gia tăng chất thải ra cửa sông, ven biển

Tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt, công nghiệp và ý tế ở vùng ven biển Việt Nam tăng mạnh qua các năm, ngày càng gây ô nhiễm trên diện rộng tại các vùng cửa sông, ven biển làm ảnh hưởng đến tài nguyên nước, sinh vật, các ngành kinh tế gắn với biển. Mỗi ngày có hàng ngàn tấn chất thải rắn được xả ra biển, đặc biệt là tại các vùng ven bờ. Không chỉ rác thải từ các hoạt động công nghiệp đóng và sửa chữa tàu thủy, nuôi trồng thủy sản, từ các khu công nghiệp ven biển, mà rác thải sinh hoạt trên các đảo co dân cư cũng là vấn đề đáng phải lưu ý. Đây là những sức ép lớn lên môi trường, hệ sinh thái và tài nguyên ven biển và biển của Việt Nam.

Theo tính toán sơ bộ, lượng rác thải rắn sinh hoạt phát sinh của 28 tỉnh, thành phố ven biển mỗi năm lên tới 14,03 triệu tấn. Bình quân 1ha nuôi tôm xả ra môi trường khoảng 5 tấn chất thải rắn và hàng nghìn m3 nước thải/năm. Với tổng diện tích trên 600.000ha nuôi tôm, hàng năm xả ra gần 3 triệu tấn chất thải rắn. Riêng chất thải rắn công nghiệp phát sinh tại các dải ven biển sơ bộ tính toán vào 2,42 triệu tấn/năm, chiếm tới 50% lượng chất thải rắn công nghiệp trên toàn quốc.

Bên cạnh đó, sự cố tràn dầu và thải dầu cặn vẫn tiếp tục xảy ra, cộng với 200 triệu tấn dầu được vận chuyển hàng năm qua các vùng biển ngoài khơi Việt Nam, với lượng thải dầu cho phép và bất hợp pháp rất lớn. Do đó, vùng biển ven bờ Việt Nam rất dễ bị tổn thương về sự cố ô nhiễm do dầu thải, dầu tràn.

Ngoài ra, ở vùng biển Việt Nam có 340 giếng khoan thăm dò và khai thác dầu khí. Bên cạnh thải nước lẫn dầu với khối lượng lớn, hoạt động này còn phát sinh 5.600 tấn chất thải rắn, trong đó có 20-30% là chất thải rắn nguy hại còn chưa có bãi chứa và nơi xử lý./.

(TTXVN)

Tin cùng chuyên mục