Chiều 13/12, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIII tiếp tục phiên họp thứ 4 thảoluận về kết quả giám sát chuyên đề việc thực hiện quy định của pháp luật về banhành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng Nhân dân, Ủy ban Nhân dân.
Tạo chuyển biến về chất, nhưng vẫn còn hạn chế bất cập
Theo thống kê tại 48 tỉnh, thành phố, giai đoạn 2005-2010, tổng số văn bản quyphạm pháp luật các cấp được ban hành là 145.386 văn bản. Trong đó Hội đồng Nhândân tỉnh ban hành 5.334 nghị quyết chứa quy phạm pháp luật; Ủy ban Nhân dân tỉnhban hành 17.471 quyết định và 2.486 chỉ thị chứa quy phạm pháp luật; Hội đồngNhân dân cấp huyện ban hành hơn 14.000 nghị quyết chứa quy phạm pháp luật; Ủyban Nhân dân ban hành hơn 27.000 quyết định, 4.195 chỉ thị chứa quy phạm phápluật; Hội đồng Nhân dân xã ban hành hơn 52.000 nghị quyết chứa quy phạm phápluật, Ủy ban Nhân dân xã ban hành hơn 16.000 nghị quyết định và hơn 4.000 chỉthị chứa quy phạm pháp luật.
Nhất trí với báo cáo của Chính phủ, Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhất chí chorằng, nhờ Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng Nhân dân, UBDN2004 có hiệu lực pháp luật, hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật củaHội đồng Nhân dân, Ủy ban Nhân dân giai đoạn 2005-2010 đã từng bước đi vào nềnếp, tạo sự chuyển biến về chất trong hoạt động xây dựng văn bản quy phạm phápluật ở địa phương, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước, quảnlý xã hội ở địa phương. Các văn bản quy phạm pháp luật do chính quyền địa phươngban hành đã trực tiếp, kịp thời phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội, nhucầu quản lý địa phương, nâng cao năng lực xây dựng pháp luật của cán bộ, các cấpchính quyền.
Theo đánh giá của đoàn thẩm tra Ủy ban Thường vụ Quốc hội, về cơ bản nội dungcác văn bản do Hội đồng Nhân dân, Ủy ban Nhân dân các cấp ban hành phù hợp vớiHiến pháp và không trái, mâu thuẫn với các văn bản của các cơ quan nhà nước cấptrên. Việc soạn thảo, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật đã được tuân thủđúng thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật được quy định trong Luật vàcác văn bản quy phạm pháp luật liên quan. Công tác thẩm định văn bản quy phạmpháp luật cơ bản được thực hiện theo đúng quy định của Luật, một số tỉnh đạt100% văn bản quy phạm pháp luật được Sở Tư pháp thẩm định.
Tuy nhiên, qua kết quả kiểm tra, chất lượng văn bản quy phạm pháp luật của Hộiđồng Nhân dân, Ủy ban Nhân dân nhìn chung còn nhiều hạn chế như cách diễn đạt từngữ khó hiểu, nội dung văn bản vượt quá thẩm quyền; thiếu tính khả thi…Tại mộtsố địa phương, công tác thẩm định văn bản vẫn tồn tại nhiều hạn chế, như việc tổchức lấy ý kiến trong quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật được tổ chứcmang tính hình thức, ảnh hưởng đến chất lượng và tiến độ ban hành văn bản.
Một số địa phương xem nhẹ công tác thẩm định văn bản, bỏ qua hoặc triển khaihoạt động này mang tính hình thức. Hoạt động kiểm tra, rà soát văn bản quy phạmpháp luật và giám sát văn bản quy phạm pháp luật chưa được thực hiện thườngxuyên, liên tục và nghiêm túc, hiệu quả chưa cao.
Chủ nhiệm văn phòng Quốc hội Nguyễn Hạnh Phúc cho rằng cần tiếp tục phân tích rõhơn những hạn chế, tồn tại trong công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luậtcủa Hội đồng Nhân dân, Ủy ban Nhân dân. Nhận thức của cán bộ, chính quyền địaphương có nơi, có lúc chưa đúng mức, chưa đúng yêu cầu. Bên cạnh đó nhiều địaphương không làm tròn vai trò của mình, né tránh trách nhiệm, thay cho việc banhành văn bản quy phạm pháp luật bằng những văn bản hành chính, thông báo…
Cùng nhất trí với ý kiến của ông Nguyễn Hạnh Phúc, Chủ nhiệm Ủy ban Quốcphòng-An ninh Nguyễn Kim Khoa cho rằng không thể coi vấn đề thiếu kinh phí lànguyên nhân dẫn đến tình trạng giảm sút chất lượng trong công tác ban hành vănbản quy phạm pháp luật của Hội đồng Nhân dân, Ủy ban Nhân dân.
Chủ nhiệm Ủy ban kinh tế Quốc hội Nguyễn Văn Giàu cho rằng chính quyền cấp trênthực tế đã không sử dụng hết quyền của mình khi hầu như không ban hành văn bảnquy phạm pháp luật. Vì thế, dẫn đến việc các văn bản quy phạm pháp luật được banhành chưa sát với cuộc sống, chưa nâng cao quyền lực vào trách nhiệm của chínhquyền cấp xã.
Cần sự thống nhất
Phát biểu tại phiên họp, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng nhấn mạnh cần cónhững đánh giá sâu hơn về hoạt động giám sát hiệu lực văn bản của Hội đồng Nhândân và Ủy ban Nhân dân. Cần tách riêng việc nghiên cứu, đánh giá chất lượng,hiệu lực văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân, dotính chất, chức năng của hai cơ quan này hoàn toàn khác nhau. Đặc biệt, cầnnghiên cứu đề xuất các giải pháp hậu giám sát, để làm sao mọi quyết định của cơquan nhà nước phải mang lại quyền lợi, sự thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp,đối tượng thụ hưởng chính sách.
Các Phó Chủ tịch Quốc hội Huỳnh Ngọc Sơn và Tòng Thị Phóng, Chủ nhiệm Ủy ban vềcác vấn đề xã hội Trương Thị Mai đánh giá cao những đánh giá, phân tích trongbáo cáo của Chính phủ và Báo cáo giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội , nhưngđều cho rằng Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chính phủ cần có những đánh giásâu hơn về chất lượng và hiệu lực văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng Nhândân, Ủy ban Nhân dân ban hành. Trước hết cần có sự thống nhất trong số liệu,đánh giá, phân tích cũng như nguyên nhân và giải pháp giải quyết hạn chế còn tồntại trong việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng Nhân dân, Ủy banNhân dân.Theo đánh giá của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, qua 6 năm thực hiện
Luật ban hànhvăn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng Nhân dân, Ủy ban Nhân dân 2004 cho thấy,bên cạnh những điểm tích cực, Luật này đang bộc lộ một số hạn chế khi triển khaitrên thực tiễn; một số điểm mâu thuẫn với Luật ban hành văn bản quy phạm phápluật năm 2008.
Thay mặt Chính phủ tiếp nhận những ý kiến đóng góp của các thành viên Ủy banThường vụ Quốc hội, Bộ trưởng Tư pháp Hà Hùng Cường thừa nhận tồn tại lớn nhấtlà khái niệm phân biệt văn bản quy phạm pháp luật và văn bản điều hành còn rấttrừu tượng trong cả đang có hiệu lực hiện nay. Cần hợp nhất Luật ban hành vănbản quy phạm pháp luật của Hội đồng Nhân dân, Ủy ban Nhân dân 2004 và Luật banhành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 để có được cơ chế kiểm soát và xây dựnghệ thống pháp luật thống nhất.
Theo Bộ trưởng, nguyên nhân của mọi nguyên nhân là vấn đề tổ chức cán bộ địaphương, phòng tư pháp, nhất là tư pháp cấp xã; phòng pháp chế của Sở Tư pháp.Rất nhiều địa phương thiếu nguồn nhân lực có chất lượng đảm bảo công việc đượcgiao. Qua thực tế cho thấy, yếu nhất là thực hiện kết luận kiểm tra, hậu giámsát. Hiện tượng nể nang, né tránh các kết luận kiểm tra vẫn đang tồn tại. Cácthông báo mang quy phạm pháp luật đã và đang giảm dần, nhưng cần thời gian vàđiều kiện cụ thể mới có thể để xóa bỏ hoàn toàn hiện tượng này.
Kết thúc phiên làm việc, Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu tổng hợp ý kiến cácđại biểu, nhấn mạnh chủ đề giám sát mà Ủy ban Thường vụ Quốc hội rất đúng,có ý nghĩa tích cực trong việc phát triển công tác lập pháp, phát triển kinh tếxã hội.
Đoàn giám sát cần tiếp thu ý kiến của các thành viên Ủy ban Thường vụ Quốchội , phối hợp cùng Chính phủ để hoàn thiện Báo cáo thẩm tra kết quả giám sát vàtrình lại Ủy ban Thường vụ Quốc hội vào phiên họp sau./.
Xuân Khu (TTXVN/Vietnam+)