Chiều 15/10, Hội Thông tin khoa học và công nghệ Việt Nam (VASTI) phối hợp với Cục Thông tin và Thống kê (NATIS) tổ chức Hội thảo "Kinh tế sinh học và thương mại hóa công nghệ sinh học: Động lực tăng trưởng mới trong kỷ nguyên số."
Hội thảo tập trung thảo luận về cơ hội phát triển kinh tế sinh học tại Việt Nam; khung chính sách, cơ chế định giá và tài chính hỗ trợ thương mại hóa công nghệ; khả năng chuyển giao các công nghệ sinh học vào thực tiễn, cũng như những khó khăn, rủi ro từ góc nhìn của nhà đầu tư và doanh nghiệp.
Quy mô toàn cầu và cơ hội bứt phá cho Việt Nam
Phát biểu khai mạc sự kiện, Tiến sỹ Trần Văn Tùng, Chủ tịch Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ nhấn mạnh, kinh tế sinh học, mô hình phát triển dựa trên việc sáng tạo, phát triển và sử dụng các nguồn tài nguyên sinh học tái tạo đang nổi lên như một động lực then chốt, một trụ cột mới cho nền kinh tế toàn cầu. Không chỉ đơn thuần là giải pháp thay thế, kinh tế sinh học mở ra một phương thức sản xuất mới, thân thiện với môi trường, tối ưu hóa dòng tuần hoàn vật chất và đảm bảo sức khỏe cho xã hội.
Theo ông Tùng, trước đây, quá trình nghiên cứu và phát triển trong ngành sinh học từng kéo dài hàng thập kỷ, chi phí rất đắt đỏ và tỷ lệ rủi ro rất cao. Nhưng giờ đây, khi công nghệ sinh học kết hợp cùng trí tuệ nhân tạo cùng một dữ liệu lớn, cùng điện toán đám mây, chúng ta đang chứng kiến sự ra đời của khái niệm "sinh học kỹ thuật số." Sự giao thoa này không chỉ tăng tốc quá trình sáng tạo mà còn hạ thấp rào cản, đưa các phát minh, các sáng chế sinh học vào đời sống thực tiễn.
"Việt Nam sở hữu lợi thế vô cùng to lớn để phát triển kinh tế sinh học. Chúng ta là một trong những quốc gia có độ đa dạng sinh học cao nhất thế giới, sở hữu nền nông nghiệp phát triển và nguồn phụ phẩm sinh học dồi dào chưa được khai thác hết giá trị," ông Tùng nhấn mạnh.
Nghị quyết 36-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ phát triển bền vững đất nước trong tình hình mới đã khẳng định rõ: Công nghệ sinh học vừa là ngành kinh tế-kỹ thuật quan trọng, là giải pháp then chốt để xây dựng nền kinh tế xanh, tuần hoàn.
Theo báo cáo từ các tổ chức quốc tế như OECD và Diễn đàn Kinh tế Sinh học Thế giới, quy mô nền kinh tế sinh học toàn cầu hiện đạt khoảng 5.000 tỷ USD và dự báo sẽ tăng trưởng vượt bậc hướng tới mốc 30.000 tỷ USD vào giữa thế kỷ 21 (năm 2050), chiếm gần 1/3 giá trị kinh tế toàn cầu. Tại nhiều quốc gia tiên tiến ở Châu Âu và Bắc Mỹ, kinh tế sinh học đã đóng góp từ 10% đến hơn 20% vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP).
Riêng đối với Việt Nam, khu vực nông-lâm-thủy sản hiện đóng góp từ 11% - 12% trong tổng GDP khoảng 514 tỷ USD, tạo dựng nền tảng vững chắc cho sự phát triển của kinh tế sinh học nông nghiệp và dược liệu. Bắt nhịp xu hướng này, các định hướng chiến lược quốc gia đã đặt mục tiêu đến năm 2045, ngành công nghiệp sinh học sẽ đóng góp từ 10% đến 15% vào tổng GDP cả nước.
4 "nút thắt" trong nỗ lực đẩy mạnh kinh tế sinh học
Mặc dù sở hữu nguồn tài nguyên sinh học phong phú cùng dư địa phát triển lớn, việc khai thác hiệu quả những lợi thế này vẫn đòi hỏi sự kết nối chặt chẽ giữa nghiên cứu khoa học, năng lực công nghệ và nhu cầu thị trường. Việc biến các kết quả nghiên cứu thành sản phẩm thương mại thương trường vẫn đối mặt với không ít vướng mắc.
Trước hết là sự thiếu hụt các bộ chuẩn đo lường chính thức, khi hiện nay vẫn chưa có định nghĩa rõ ràng cùng khung tiêu chí cụ thể để đánh giá chính xác tỷ lệ đóng góp của kinh tế sinh học vào GDP cả nước. Bên cạnh đó, rào cản từ tâm lý e ngại rủi ro pháp lý của các viện nghiên cứu công lập khi đưa tài sản trí tuệ ra thị trường cũng đang tạo ra lực cản lớn, khiến nhiều kết quả nghiên cứu tiềm năng chưa thể bứt phá khỏi phạm vi phòng thí nghiệm.
Bên cạnh đó, tình trạng đứt gãy trong chuỗi kết nối cung-cầu công nghệ nội địa vẫn diễn ra phổ biến, khiến nhiều kết quả nghiên cứu tiềm năng chưa thể tiếp cận trực tiếp với nhu cầu của thị trường. Đáng chú ý, sự thiếu hụt trầm trọng các nguồn vốn đầu tư mạo hiểm dành riêng cho giai đoạn ươm tạo công nghệ cũng đang trở thành "nút thắt" lớn, cản trở các ý tưởng sáng tạo bứt phá và thương mại hóa thành công.
Từ 4 thách thức trên, Phó Giáo sư, Tiến sỹ Huỳnh Thành Đạt, Phó trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, Nguyên Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ nêu ra các định hướng trong tháo nghẽn vướng mắc kinh tế sinh học.
Một trong số đó là tăng cường nhận thức về kinh tế sinh học và đo lường đóng góp đối với nền kinh tế. Kinh tế sinh học mở ra khả năng khai thác hiệu quả các nguồn tài nguyên sinh học, kết hợp tri thức khoa học và công nghệ hiện đại để tạo ra sản phẩm giá trị gia tăng cao, góp phần phát triển kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn.
Cùng với đó là gắn kết chặt chẽ giữa nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và nhu cầu thị trường. Đưa kết quả nghiên cứu ra khỏi phòng thí nghiệm đòi hỏi thời gian, sự hoàn thiện công nghệ, thử nghiệm, đánh giá chất lượng và nguồn lực đầu tư đáng kể.
Ngoài ra, xây dựng hệ sinh thái kết nối cung - cầu, phát huy vai trò chủ động của doanh nghiệp cũng là một định hướng được nhắc đến. Thương mại hóa công nghệ sinh học đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các bên: viện nghiên cứu, trường đại học tạo ra tri thức và phát triển công nghệ; doanh nghiệp nhận diện nhu cầu, tổ chức sản xuất, đưa sản phẩm ra thị trường; các tổ chức trung gian kết nối đối tác và thúc đẩy chuyển giao.
Ông Huỳnh Thành Đạt nhấn mạnh: "Sự liên kết này phải tạo ra kết quả thực chất, không dừng ở trao đổi thông tin hay ký kết hợp tác. Doanh nghiệp cần chủ động đặt hàng, đồng hành cùng nhà khoa học; nhà khoa học cần quan tâm đến khả năng chuyển giao và nhu cầu người sử dụng, từ đó hình thành hệ sinh thái kinh tế sinh học có khả năng huy động nguồn lực xã hội và nâng cao sức cạnh tranh của công nghệ sinh học Việt Nam."
Tại Hội thảo, các tham luận từ đại diện cơ quan quản lý Nhà nước, Viện nghiên cứu, Doanh nghiệp cũng được trình bày, tập trung vào các nội dung trọng tâm nhằm phân tích toàn diện bức tranh kinh tế sinh học.
Thông qua Hội thảo, các cơ quan quản lý, nhà khoa học và cộng đồng doanh nghiệp có thêm cơ hội trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm, nhận diện những khó khăn, vướng mắc và đề xuất giải pháp thúc đẩy thương mại hóa công nghệ sinh học tại Việt Nam. Qua đó, tạo nền tảng thúc đẩy kinh tế sinh học phát triển theo hướng xanh, bền vững, đóng góp vào việc nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và tạo động lực tăng trưởng mới trong kỷ nguyên số./.