Quốc hội khóa XV và Hội đồng Nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 đã để lại nhiều dấu ấn rõ nét về cường độ hoạt động, đổi mới trong lập pháp và nâng chất lượng giám sát.
Tuy nhiên, trong giai đoạn phát triển mới, hoạt động của các cơ quan dân cử cần tiếp tục được nâng lên theo hướng chắc hơn, sâu hơn và hiệu quả hơn. Đây là nhận định của ông Lê Văn Tranh, nghiên cứu sinh tiến sỹ luật học tại Đại học Paris Panthéon-Assas (Pháp).
Trao đổi với phóng viên TTXVN tại Paris, ông Lê Văn Tranh cho rằng Quốc hội khóa XV có “cường độ hoạt động rất cao và phản ứng chính sách khá nhanh trước những yêu cầu của thực tiễn.”
Trong nhiệm kỳ này, Quốc hội đã tổ chức nhiều kỳ họp thường kỳ và kỳ họp bất thường nhằm xử lý đồng thời các yêu cầu về lập pháp, tổ chức bộ máy, phát triển kinh tế-xã hội và hoàn thiện thể chế.
Riêng tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV đã thông qua 51 luật và 8 nghị quyết quy phạm pháp luật.
Theo ông Lê Văn Tranh, con số này cho thấy “quyết tâm rất lớn” trong việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho giai đoạn phát triển mới. Cùng với cường độ hoạt động cao, chất lượng quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước cũng từng bước được nâng lên.
Quốc hội không chỉ ban hành nhiều luật hơn mà còn phải xử lý những vấn đề khó, có phạm vi rộng và tác động lớn.
Trong khi đó, hoạt động của Hội đồng Nhân dân các cấp cũng có chuyển biến theo hướng thực chất hơn khi kịp thời cụ thể hóa các chủ trương, chính sách thành nghị quyết phù hợp với điều kiện của từng địa phương, đồng thời tăng cường chức năng giám sát và trách nhiệm giải trình.
Một điểm đáng chú ý, theo ông Lê Văn Tranh, hiện cũng là giảng viên Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh này, đó là hoạt động của các cơ quan dân cử ngày càng gắn với yêu cầu phát triển, tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế và đáp ứng mong đợi của người dân, doanh nghiệp.
Trong bối cảnh hiện nay, hiệu quả hoạt động nghị trường không chỉ được đo bằng số lượng văn bản ban hành mà còn phải được đo bằng mức độ tác động thực tế của chính sách.
Tuy vậy, ông Lê Văn Tranh đánh giá vẫn còn những vấn đề cần cải thiện. Chất lượng của một số văn bản pháp luật cần bảo đảm tốt hơn về tính ổn định, tính dự báo và tính khả thi.
Hoạt động giám sát ở một số nơi cũng cần đi đến cùng trách nhiệm thực thi, tránh tình trạng nêu vấn đề thì đúng nhưng việc theo dõi kết quả khắc phục chưa thật rõ ràng.
Ông Lê Văn Tranh nhận định: “Có thể khái quát rằng đây là nhiệm kỳ của nhiều nỗ lực, nhiều đổi mới, nhiều kết quả. Nhưng nhiệm kỳ tới không chỉ cần làm nhanh hơn mà phải làm chắc hơn, sâu hơn và hiệu quả hơn đối với người dân và doanh nghiệp.”
Theo nghiên cứu sinh tiến sỹ này, trong bối cảnh Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đặt ra những mục tiêu phát triển rất cao cho giai đoạn mới, yêu cầu đối với đại biểu Quốc hội và Hội đồng Nhân dân khóa mới cũng cần được nâng lên tương xứng.
Nghị quyết Đại hội XIV xác định mục tiêu đến năm 2030 đưa Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, đồng thời hướng tới tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao.
Đi cùng với đó là yêu cầu tiếp tục hoàn thiện thể chế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền gắn với kiểm tra, giám sát và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia.
Từ yêu cầu đó, theo ông Lê Văn Tranh, đại biểu khóa mới cần đáp ứng ít nhất 4 yêu cầu.
Trước hết là có bản lĩnh chính trị vững vàng, tư duy thể chế tốt và năng lực chuyển các chủ trương thành luật pháp, nghị quyết và chính sách khả thi.
Thứ hai là nâng cao chất lượng giám sát, không chỉ dừng ở việc phát hiện vấn đề mà phải theo dõi đến cùng kết quả thực hiện các cam kết và yêu cầu đã được nêu ra.
Thứ ba là phải thực sự gần dân, hiểu dân, nắm được những khó khăn cụ thể của người dân, doanh nghiệp và địa phương.
Thứ tư là cần có tư duy hội nhập và năng lực thích ứng với những vấn đề mới như kinh tế số, trí tuệ nhân tạo (AI), an ninh dữ liệu.
Riêng đối với Hội đồng Nhân dân, yêu cầu đặt ra rất cụ thể, đó là nâng cao chất lượng quyết định chính sách tại địa phương, giám sát chặt các lĩnh vực như đầu tư công, đất đai, ngân sách, cải cách thủ tục hành chính và trách nhiệm giải trình của bộ máy.
Bên cạnh hoạt động lập pháp và giám sát trong nước, ông Lê Văn Tranh cho rằng trong bối cảnh khu vực và thế giới biến động nhanh, hợp tác liên nghị viện cần được nâng lên một bước mới.
Theo ông, hợp tác này “không nên chỉ dừng ở giao lưu, nghi lễ hay trao đổi đoàn theo nghĩa truyền thống mà phải trở thành một kênh phục vụ trực tiếp cho phát triển đất nước.”
Hiện nay, Quốc hội Việt Nam đã thiết lập quan hệ với hơn 140 nghị viện và quốc hội trên thế giới, đồng thời thành lập hơn 50 Nhóm Nghị sỹ hữu nghị.
Theo ông Lê Văn Tranh, với nền tảng quan hệ đã có, vấn đề đặt ra hiện nay là làm sao để các hoạt động hợp tác đi vào chiều sâu, đi vào chuyên môn và tạo ra giá trị chính sách cụ thể.
Theo đó, hợp tác liên nghị viện cần gắn chặt với các ưu tiên phát triển của đất nước như hoàn thiện thể chế, thương mại và đầu tư, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, an ninh năng lượng, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và thực thi các cam kết quốc tế.
Đồng thời, cần chuyển mạnh từ trao đổi chung sang chia sẻ kinh nghiệm lập pháp chuyên sâu giữa các ủy ban chuyên môn, các cơ quan tham mưu và các nhóm nghị sĩ hữu nghị, qua đó rút ra những bài học có thể chuyển hóa thành chính sách và pháp luật.
Một yêu cầu quan trọng khác là tăng cường năng lực theo dõi và giám sát việc thực hiện các thỏa thuận và cam kết đã ký kết, để ngoại giao nghị viện không dừng ở các tuyên bố hay ký kết mà mang lại kết quả cụ thể cho phát triển.
Theo ông Lê Văn Tranh, ngoại giao lập pháp càng hiệu quả khi giúp Việt Nam học hỏi được kinh nghiệm tốt, tranh thủ được nguồn lực, bảo vệ lợi ích quốc gia và nâng cao tiếng nói tại các diễn đàn đa phương.
Điều quan trọng là chuyển từ tư duy “tham gia để hiện diện” sang “tham gia để đóng góp,” qua đó định hình các chuẩn mực hợp tác và phục vụ trực tiếp cho phát triển đất nước.
Từ góc nhìn nghiên cứu tại Pháp, ông Lê Văn Tranh cho rằng Việt Nam có thể học hỏi nhiều kinh nghiệm trong tổ chức hoạt động lập pháp và nghị viện.
Theo ông, điều đáng học không phải là sao chép nguyên mẫu thể chế mà là cách tổ chức quy trình làm luật chặt chẽ, chuyên nghiệp và có trách nhiệm đến cùng.
Một trong những bài học quan trọng là coi trọng khâu chuẩn bị chính sách và dự thảo luật. Ở Pháp, phần lớn dự án luật phải kèm theo báo cáo đánh giá tác động trước khi trình nhằm làm rõ hệ quả của chính sách và tạo cơ sở cho tranh luận nghị trường.
Bên cạnh đó là cơ chế phản biện pháp lý và phản biện kỹ thuật ngay từ đầu thông qua vai trò thẩm định của Hội đồng Nhà nước Pháp - cơ quan tư vấn pháp lý cao nhất của Chính phủ - nhằm kiểm soát chất lượng pháp lý của các dự thảo luật trước khi được đưa ra nghị trường.
Theo ông Lê Văn Tranh, một bài học quan trọng khác là không coi việc thông qua luật là điểm kết thúc mà phải theo dõi nghiêm việc thi hành luật sau ban hành.
Tại Pháp, Thượng viện có cơ chế kiểm soát việc áp dụng luật, các ủy ban thường trực theo dõi việc thực hiện và các báo cáo viên còn có trách nhiệm theo dõi quá trình áp dụng luật sau khi luật được công bố.
Cùng với đó là việc nâng cao chất lượng hoạt động của các ủy ban, đại biểu chuyên trách và bộ máy tham mưu nhằm giúp các cuộc tranh luận chính sách đi vào chiều sâu hơn.
Theo ông Lê Văn Tranh, phát triển ngoại giao nghị viện theo hướng thực chất, gắn với học hỏi kinh nghiệm lập pháp và chia sẻ kỹ thuật cũng là một hướng quan trọng để phục vụ trực tiếp cho phát triển đất nước.
Cuối cùng, ông Lê Văn Tranh nhấn mạnh rằng bài học lớn rút ra là cần chuyển từ tư duy làm luật để quản lý sang tư duy làm luật để giải quyết vấn đề, bảo đảm tính khả thi của chính sách và kiểm soát được kết quả thực hiện trong thực tiễn./.
Các mốc thời gian đáng chú ý sau Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp
Chủ nhật, ngày 15/3/2026, cử tri cả nước sẽ tham gia bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031.